Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Trung Tâm NC Khoai tây, Rau và Hoa, trồng rau Hàn Quốc theo VietGap

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  27
 Số lượt truy cập :  26819856
Nghiên cứu hoạt động chế biến lúa gạo cho xuất khẩu ở đổng bằng Sông Cửu Long
Thứ năm, 13-03-2014 | 13:47:33

Nguyen Cong Thanh(1), Bui Dinh Duong(2), Tran Van Hien(2),Nguyen Huu Minh(2) and Manish Signh(3)

(1). Viện Khoa học Kỹ Thuật Nông nghiệp miền Nam

(2). Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long

(3). Foretell Business Solution, India.

 

Tóm Tắt

 

Kết quả nghiên cứu về công suất/ngày của các nhà máy biến thiên từ 30 tấn cho đến 500 tấn/ngày, trung bình là 170,2 tấn/ngày. Lượng lúa xay chà thực tế/năm biến thiên khá lớn giữa các nhà máy từ 2.040 tấn/năm cho đến 100.000 tấn/năm. Trung bình là 33.360 tấn/năm. Có 20% nhà máy hoạt động vượt công suất lý thuyết/năm, từ 130 – 141%, trong khi có đến 80% nhà máy hoạt động dưới mức công suất lý thuyết/năm. Lượng lúa xay chà hàng ngày của các nhà máy biến thiên từ 6 tấn – 500 tấn/ngày, trung bình là 136 tấn/ngày. Tỷ lệ gạo lức thu hồi cao nhất trong vụ ĐX, kế đến vụ TĐ và sau cùng là vụ HT (tương ứng là 73,44%; 71,67% và 68,81%). Đối với giống lúa IR50404 cho tỷ lệ gạo nguyên thu hồi cao nhất trong các giống hiện nay. Đây là một trong những ưu điểm làm cho giống này được trồng với tỷ lệ cao hiện nay, mặc dù chất lượng gạo kém. Độ ẩm lúa khi đưa vào xay chà biến thiên từ 15%  đến 18%. Độ ẩm lý tưởng cho lúa đưa vào xay chà theo ý kiến của các nhà máy dao động tứ15-17%, trung bình là 16%. Trong đó, có 46% nhà máy cho rằng độ ẩm lúa lý tưởng đưa vào xay chà là 16%. Hiện trạng về tiêu thụ sản phẩm phụ trấu chưa có đầu ra ổn định và có lợi cho môi trường. Về chất lượng gạo xay chà, có 100%  nhà máy chà lúa có chất lượng thấp và trung bình. Chỉ có 50% nhà máy chà lúa có chất lượng cao. Ngoài ra còn có 20% nhà máy không quan tâm phân biệt chất lượng lúa. Đối với loại giống lúa có chất lượng thấp (ví dụ IR50404, OM576), có tỷ lệ từ10-80%, trung bình là 48%. Đối với loại giống lúa có chất lượng trung bình có tỷ lệ trung bình là 35%. Loại giống lúa chất lượng cao đưa vào xay chà còn rất thấp, trung bình chỉ 20%. Nghiên cứu này phù hợp với hiện trạng chất lượng gạo xuất khẩu của nước ta những năm gần đây. Kênh đầu vào và đầu ra phổ biến có 42%  nhà máy áp dụng gồm có 3 công đoạn: Nhà máy mua lúa từ nông dân và thương lái, rồi chà thành gạo lức, bán gạo lức cho doanh nghiệp khác đánh bóng, sau đó, doanh nghiệp này bán cho công ty xuất khẩu. Tuy nhiên, kênh thích hợp là thương lái mua lúa từ nông dân, chà lức bán cho nhà máy, nhà máy đánh bóng, bán cho công ty xuất khẩu nhằm chuyên môn hóa cao. Nghiên cứu đã tổng hợp thành 11 khó khăn chính đối với nhà máy trong quá trình hoạt động chế biến lúa gạo cho xuất khẩu và 10 kiến nghị nhằm kêu gọi sự quan tâm của các nhà quản lý và những cơ quan liên quan quan tâm giúp các nhà máy khắc phục những khó khăn nhằm cải thiện và phát triển tiến lên hiện đại hóa hoạt động chế biến lúa gạo đạt chất lượng và giá trị xuất khẩu ngày càng gia tăng, góp phần cải thiện đời sống người nông dân.


Trích từ:   Tạp chí Omonrice 19: 201-213 (2013)

Trở lại      In      Số lần xem: 2726

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD