Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Nông nghiệp 4.0 – Cơ hội cho nông nghiệp Việt Nam

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  20
 Số lượt truy cập :  19003195
Sử dụng chiết xuất lá cây muồng trâu Cassia alata Linn. để tổng hợp vật liệu nano vàng và kiểm tra khả năng đối kháng của vật liệu này đối với một số vi sinh.(ThS. Lê Thị Thanh)
Thứ ba, 26-09-2017 | 13:52:59

Cán bộ khoa học, Bảo Vệ Thực Vật, IAS

 

Vật liệu nano có kích thước rất nhỏ từ 0.1 đến 100 nm (1nm = 10-9m) được ứng dụng nhiều trong y học, vật lý và hóa học. Faulk và Taylor (1971) lần đầu tiên giới thiệu nano vàng vào nghiên cứu sinh học, và đến nay vật liệu này đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực sinh hóa, vi sinh, miễn dịch học, tế bào học, sinh lý thực vật, hình thái học, v.v. Nano vàng đã được minh chứng có khả năng làm giảm độc tố trong thực vật và tang khả năng nảy mầm của hạt, tang số lá, chiều cao cây, tăng lượng diệp lục, hàm lượng đường, tăng năng suất cây trồng.

 

Sinh tổng hợp vật liệu nano vàng đã được thực hiện sử dụng chiết xuất của lá cây muồng trâu Cassia alata Linn. và HAuCl4.3H2O. Sau hai giờ tổng hợp trong điều kiện tối và nhiệt độ phòng, những phản ứng đầu tiên đã được ghi nhận thể hiện qua sự đổi sang màu tím của dung dịch tổng hợp. Phân tích quang phổ đã được thực hiện sau hai giờ tổng hợp để xác định sự hình thành của các phân tử nano vàng. Kết quả quang phổ không giống nhau từ các công thức nồng độ khác nhau của dung dịch sử dụng và tỷ lệ chiết xuất,đỉnh của cộng hưởng bề mặt plasmon của vàng thể hiện ở bước sóng từ 530 đến 560 nm. Công thức HAuCl4.3H2O 1mM và tỷ lệ chiết xuất sử dụng 9:1 thể hiện rõ cộng hưởng bề mặt plasmon của vàng đạt đỉnh ở bước sóng 549nm. Đây là công thức phù hợp để tổng hợp nano vàng cho các thí nghiệm tiếp theo. Phương pháp kính hiển vi điện tử quét (SEM) và nhiễu xạ tia X (X-ray) đã được sử dụng để phân tích hình dạng và kích thước của nano vàng tổng hợp được. Kết quả cho thấy các phân tử nano vàng có hình cầu và kích thước khá đồng nhất từ 12 đến 13nm, kích thước trung bình 12.3 nm. Phân tích phổ tán sắc năng lượng tia X (EDX) đã được thực hiện trong khoảng 1/4000 đến 1/400 cm. Kết quả cho thấy xuất hiện của nano vàng trong mẫu tổng hợp, chiếm 80,7% trọng lượng và 28,03 % nguyên tử, ngoài ra còn có các nguyên tử C, O, Cl và K. Phân tích quang phổ hồng ngoại (FT-IR) đã được sử dụng để xác định những yếu tố góp phần đóng vai trò trong quá trình tổng hợp từ Au+ ra nano vàng, Au0 bao gồm nhóm phenol, muối tertiary amine, monosubstituted alkynes và alcohols bậc 2. Thí nghiệm kiểm tra khả năng đối kháng của nano vàng tổng hợp được đối với một số nấm và vi khuẩn đã được thực hiện với phương pháp khuếch tán qua giếng thạch (well diffusion agar). Nồng độ nano vàng 1mg/mL được sử dụng cho thấy khả năng đối kháng nấm Aspergillus flavus, Fusarium oxysporumDidymella bryoniae (đường kính vùng đối kháng lần lượt là 10 mm, 9 mm và 10 mm), yếu hơn so với đối chứng thuốc trừ nấm (23 mm, 21 mm và 22 mm). Đường kính vùng đối kháng của nano vàng trong thí nghiệm với vi khuẩn đo được ở 13 mm, 14 mm và 13 mm đối với Bacillus subtilis, Xanthomonas campestris Escherichia coli, trong khi thuốc kháng sinh đối chứng cho kết quả lần lượt 0 mm, 14 mm và 41 mm.

Trở lại      In      Số lần xem: 310

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD