Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Triển vọng giống đậu nành HLĐN910 trên đất trồng tiêu

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  15
 Số lượt truy cập :  21195012
Ảnh hưởng của nồng độ Nitơ trong dung dịch dinh dưỡng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng dâu tây trồng trong nhà màn tại Đà Lạt
Thứ ba, 04-06-2019 | 08:12:15

Sản xuất thủy canh dâu tây đã tăng đáng kể trong những năm gần đây trên toàn thế giới, vì nó cho phép sử dụng nước và phân bón hiệu quả hơn, cũng như kiểm soát khí hậu tốt hơn và đặc biệt là yếu tố sâu bệnh. Hơn nữa, sản xuất thủy canh dâu tây làm tăng năng suất và chất lượng, dẫn đến tăng khả năng cạnh tranh và tăng hiệu quả hiệu quả kinh tế. Trong số các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống sản xuất thủy canh dâu tây, dung dịch dinh dưỡng được xem là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định năng suất và chất lượng dâu tây.

 

 

Trong số các nguyên tố dinh dưỡng Nitơ là một chất dinh dưỡng quan trọng trong tăng trưởng và năng suất cây trồng, bởi vì nó ảnh hưởng đến quang hợp và sự phân bố các chất khô tại các bộ phận của cây. Trong giai đoạn cây dâu tây sinh trưởng mạnh, nếu thiếu đạm lá thường có kích thước nhỏ và có thể chuyển từ màu xanh sang màu xanh nhạt hoặc vàng; casclas già có cuống màu đỏ tía và phiến lá có màu đỏ rực; kích cỡ quả giảm và tai quả trở nên đỏ tía (Ullio, 2010), (Ulrich et al., 1992). Việc tăng nồng độ N trong dịch dinh dưỡng sẽ làm tăng đáng kể số lượng thân bò, giảm đáng kể các chất rắn hào tan trong quả (Cantlife. Castellanos, & Paranjpe, 2007). Trong cây dâu tây, sự thiếu nitơ sẽ giảm sự vận chuyển các hợp chất cacbon về quả, giảm số lượng quả và năng suất quả, tăng tỷ lệ quả nhỏ (Deng & Woodward, 1998). Do đó, việc nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ nitơ đến sinh trưởng của dâu tây là cần thiết, nhằm xác định được nồng độ N tối ưu cho cây dâu tây sinh trưởng và phát triển trên giá thể tại Đà Lạt.

Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ N trong dịch dinh dưỡng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng quả dâu tây được tiến hành trong nhà màn tại Đà Lạt. Cây giống dâu tây được trồng trên chậu nhựa có chứa giá thể phối trộn giữa vỏ trấu và mụn xơ dừa theo tỷ lệ 1:3. Thí nghiệm được thiết kế theo kiểu khối ngẫu nhiên, với 7 nghiệm thức, 3 lần lặp lại. Kết quả thí nghiệm cho thấy nồng độ N trong dung dịch dinh dưỡng có tương quan chặt với sự tăng trưởng lá của và năng suất dâu tây.

Dung dịch dinh dưỡng có nồng độ N nằm trong phạm vi 154 – 182 mg/l cho sinh trưởng thân lá và năng suất cao nhất.

Chất lượng quả bị ảnh hưởng nhiều bởi nồng độ N trong dung dịch dinh dưỡng. Nồng độ N nằm trong phạm vi 98 – 182 mg/l cho chất lượng quả tốt nhất. Nồng độ N = 98 mg/l cho chất lượng quả đạt cao nhất và tương đương với nồng độ N = 182mg/l.

Tỷ lệ quả nhiễm bệnh thối mốc xám do nấm Botrytis cinerea và thán thư do nấm Colletortrichum acutatum trên quả tỷ lệ nghịch với nồng độ N trong dung dịch dinh dưỡng. Nồng độ N nằm trong phạm vi 42 – 126 mg/l có tỷ lệ quả nhiễm hai nấm bệnh trên thấp nhất.

dtnkhanh - Canthostnews, theo TC KHCN NN Việt Nam.

Trở lại      In      Số lần xem: 145

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD