Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Triển vọng giống đậu nành HLĐN910 trên đất trồng tiêu

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  9
 Số lượt truy cập :  24536763
Cách thực vật đảm bảo khoảng cách đều giữa các hạt
Thứ năm, 17-09-2020 | 08:03:36

Hạt trong các loại đậu và vỏ đậu (trên cùng: snow pea, ở giữa: princess bean, dưới cùng: runner bean. Nhóm nghiên cứu đã làm rõ lý do khoảng cách giữa các hạt lại giống nhau ở mỗi vỏ quả và khoảng cách này có liên quan đến kích thước quả như thế nào.

 

Các nhà nghiên cứu quốc tế đứng đầu là các nhà khoa học của đại học Heinrich Heine, Düsseldorf (HHU) đã nghiên cứu cách tạo thành hạt cùng với sự sinh trưởng của quả. Trong ấn phẩm mới nhất của tạp chí Current Biology, các nhà khoa học đã giải thích các cơ chế kiểm soát di truyền dưới dạng các quá trình.

 

Nếu bạn tách một quả đậu ra, bạn sẽ thấy tất cả các hạt bên trong có cùng kích thước và khoảng cách giữa các hạt. Sự giống nhau là chính xác đối với princess bean, runner bean và đậu nành cũng như các loại đậu khác. Điều này thật ngạc nhiên vì kích thước, số lượng hạt và kích thước vỏ là khác nhau từ giống này sang giống khác.

 

Một nhóm các nhà nghiên cứu ở Đức, Úc, Nhật, Mỹ, Ý dưới sự điều hành của GS.TS. Rüdiger Simon ở Viện Phát triển di truyền của đại học HHU đã phân tích cơ chế di truyền đằng sau hiện tượng này. Nhóm đã sử dụng các cây thale cress hoang dại khác nhau để nghiên cứu các quá trình di truyền xảy ra sau sự khởi đầu từ noãn – bắt đầu từ đó hạt được tạo thành sau khi thụ tinh – và sự phát triển của vỏ. Các giống hoang dại được lấy từ các giống địa phương khác nhau. Cây thale cress hay cây Arabidopsis thaliana là cây mô hình được sử dụng trong sinh học. Giáo sư Simon nhận xét “Mỗi một hạt sẽ cạnh tranh với hạt khác về chất dinh dưỡng. Để đảm bảo các hạt đều được cung cấp chất dinh dưỡng bằng nhau và có thể phát triển tốt, điều này quan trọng để các hạt có thể được rải đều ở các khoảng cách bằng nhau trong vỏ hạt”.

 

Có sự khác nhau đáng kể về kích thước quả và số lượng hạt giữa các giống Arabidopsis thaliana hoang dại khác nhau. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã tìm ra một cơ chế di truyền chung để kiểm soát vị trí hạt trong vỏ mà không phụ thuộc vào các yếu tố môi trường như nhiệt độ.

 

Nhóm nghiên cứu đã chứng minh việc tạo hạt được kiểm soát bởi vài con đường truyền tín hiệu ở các vị trí được xác định chính xác. Các con đường truyền tín hiệu này được hoạt hóa bởi các protein nhỏ thuộc nhóm EPFL. Những peptide nhỏ này được phát hiện trên bề mặt tế bào bởi các thụ thể thuộc nhóm ERECTA. Một trong các peptide này, EFLP2, được tạo thành cùng với sự phát triển của noãn, nơi chúng điều chỉnh khoảng cách giữa các hạt. Khi không có peptide EFLP2, các nhà khoa học đã tìm thấy một khoảng cách không đều – nghĩa là các hạt gần nhau cạnh tranh nhiều hơn các chất dinh dưỡng – hoặc thậm chí tạo noãn đôi, thường dẫn đến kết quả noãn phát triển không hoàn toàn. EFLP2 và một peptide có liên quan chặt chẽ, EFLP9, cũng kiểm soát sự phát triển của quả. Kết quả là sự hình thành hạt có liên quan rất gần với sự phát triển của vỏ quả.

 

TS. Nozomi Kawamoto, tác giả đầu tiên của nghiên cứu này, nhấn mạnh một khía cạnh khác: “Các chất truyền tín hiệu và các thụ thể giống nhau mà chúng tôi đã xác định là chịu trách nhiệm về kích thước vỏ và khoảng cách hạt cũng như khoảng cách của khí khổng ở lá và cấu trúc vi mô của lá dạng răng cưa”. Thực vật sử dụng khí khổng trao đổi khí với môi trường.

 

Nguyễn Thị Kim Thoa theo Phys.org

Trở lại      In      Số lần xem: 63

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD