Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Nông nghiệp 4.0 – Cơ hội cho nông nghiệp Việt Nam

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  25
 Số lượt truy cập :  19191879
Cặp BASE GC làm tăng đột biến và tái tổ hợp trong nấm men Saccharomyceas cerivisiae
Thứ ba, 31-07-2018 | 08:03:56

Nguồn: Denis A. Kiktev, Ziwei Sheng, Kirill S. Lobachev, and Thomas D. Petes. 2018. GC content elevates mutation and recombination rates in the yeast Saccharomyces cerevisiae. PNAS (GENETICS) July 24, 2018. 115 (30): E7109-E7118

Ý NGHĨA

Nhiễm sắc thể của hầu hết sinh vật có những vùng rất giàu cặp base GC nằm xen đoạn với các vùng nghèo GC. Nhóm tác giả đề tài đã thiết kế ba “variants” của gen URA3 trong hệ gen nấm men có mức độ GC thay đổi 31%, 43%, và 63%. Họ thấy rằng vùng giàu GC trong gen URA3 có mức gia tăng lên sau đột biến, ngay cả hai sự kiện mất đoạn base đơn và bổ sung base đơn. Sự bổ sung base có tính chất gia tăng lên như vậy  cần có một enzyme có tên là “error-prone DNA polymerase”, và sự mất đoạn base rất cao xảy ra khi có tác động của enzyme tên là “DNA polymerase slippage”. Gen có hàm lượng GC cao còn gia tăng mật độ base này  trong tái tổ hợp có bản chất gián phẩn đẳng nghiễm và giảm nhiễm. Kết quả quan sát ấy cho thấy hàm lượng cặp base GC là thông số di truyền rất quan trọng ảnh hưởng đến sự tiến hóa của hệ gen.

TÓM TẮT

Nhiễm sắc thể của nhiều loài sinh vật bậc cao (eukaryotes) có những vùng giàu cặp base GC nằm xen kẽ với những vùng nghèo GC. Trong hệ gen nấm men Saccharomyces cerevisiae, vùng giàu GC thường kết hợp với sự kiện tái tổ hợp trong gián phân giảm nhiễm. Theo kết quả nghiên cứu này, người ta đã thiết kế gen URA3 cho kết quả khác biệt ngay sau khi số cặp base GC biến thiên [URA3-AT (31% GC), URA3-WT (43% GC), và URA3-GC (63% GC)] những mã hóa ra protein có cùng chuỗi trình tự amino acid. Chủng nòi nấm men có URA3-GC tang khoảng gấp bảy lần mức độ ấy trong đột biến ura3 so với những chủng nòi nấm men URA3-WT hoặc URA3-AT. Có khoản phân nửa đột biến này là đột biến thay vào của một base đơn, chúng tùy thuộc vào enzyme “error-prone DNA polymerase ζ”. Có khoảng 30% là đột biến mất đoạn hoặc lập đoạn giữa những đoạn phân tử ngắn (5–10 base) trực tiếp lập lại từ kết quả phản ứng của enzyme “DNA polymerase slippage”. Gen URA3-GC còn tăng khi có sự tái tổ hợp có bản chất gián phân đẳng nhiễm hay giảm nhiễm tương ứng với gen URA3-AT hoặc URA3-WT. Do vậy, sự hợp thành của base có một ảnh hưởng sau một cái gì đó thuộc về thong số di truyền căn bản của sự kiện ổn định hệ gen hay tiến hóa của hệ gen.

 

GS. Bùi Chí Bửu lược dịch.

 

Xem: http://www.pnas.org/content/115/30/E7109

 

Figure 1: Mức độ và hình thành đột biến ura3 của chủng nòi nấm men có gen URA3-AT, URA3-WT, và URA3-GC. (A) Mức độ của đột biến ura3. Kết quả đo đếm tần suất dẫn xuất 5-FOAR t rong nuôi cấy truyền nhiều lần, người ta tính toán được mức độ đột biến của chủng nòi nấm men với URA3-AT, URA3-WT, và URA3-GC (xem Vật Liệu & Phương Pháp). Mức độ tin cậy 95% được biểu hiện trong phân tích thống kê. (B) Chạy trình tự DNA, người ta đã xác định đột biến ura3 do sự thay vào một base đơn (một nucleotide), indels có độ dài ≥5 bp, single-base indels, hoặc đột biến phức tạp (có hơn một đột biến kiểu “substitution”). Tỷ lệ của những “classes” nhân lên theo tỷ lệ tang đột biến ura3 để phát sinh ra những mức độ tang lên ấy trong “classes”.

Trở lại      In      Số lần xem: 42

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD