Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cây cà phê Việt Nam

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  35
 Số lượt truy cập :  17018756
Công bố 2 loài rầy mới
Chủ nhật, 30-07-2017 | 06:15:08

Các nhà khoa học Bỉ và Việt Nam vừa công bố 2 loài rầy mới thuộc giống Orthophana Melichar, 1923 và giống Goniopsarites Meng, Wang & Wang, 2014 (họ Nogodinidae, bộ Hemiptera). Các loài mới được đặt tên khoa học là: Orthophana (Orthophana) maichiae Constant & Pham, 2016 và Goniopsarites tonkinensis Constant & Pham, 2016.

 

Giống Goniopsarites lần đầu tiên ghi nhận ở Việt Nam. Trên thế giới mới chỉ có 4 loài thuộc giống Orthophana Melichar, 1923 được công bố và đây cũng là lần đầu tiên giống này được ghi nhận có mặt tại Việt Nam. Việc ghi nhận này cho thấy dường như giống Orthophana chỉ sống ở độ cao từ 1000 đến 1600m (Constant & Pham, 2014) trong rừng nhiệt đới thường xanh. Tất cả các loài Orthophana đều được biết đến với rất ít mẫu vật và không biết về cây chủ của chúng.

 

Loài Orthophana (Orthophana) maichiae Constant & Pham, 2016

 

Loài này có thể dễ dàng phân biệt với loài Orthophana (Eupharos) tamdaoina bằng gai ở ngọn cánh trước (loài Orthophana (Eupharos) tamdaoina không có gai ở ngọn cánh trước) và các gân Sc và R của cánh trước chạy tách biệt từ ô gốc cánh (hợp nhất ở loài Orthophana (Eupharos) tamdaoina), khác với loài Orthophana (Orthophana) bidoupensis bởi cánh trước cánh sau và đầu dài hơn, khác với loài Orthophana (Orthophana) bidoupensis bởi màu nâu vàng (có thể là màu xanh lá cây nếu là mẫu tươi) (màu nâu ở loài Orthophana (Orthophana) bidoupensis) và cánh trước, cánh sau và đầu dài hơn. Chiều dài từ đỉnh đầu tới ngọn cánh = 15mm.

 

loairaymoi.1

Orthophana (Orthophana) maichiae Constant & Pham, 2016: A, nhìn từ mặt bên. B, đầu nhìn từ mặt bụng. C, nhìn từ mặt lưng. D, cánh sau bên phải.

 

Loài Goniopsarites tonkinensis Constant & Pham, 2016

 

Loài này rất giống với loài G. fronticonvexus Meng, Wang & Wang, 2014 và phải sử dụng đặc điểm của bộ phận sinh dục con đực để phân biệt. Chiều dài từ đỉnh đầu tới ngọn cánh = 12mm.

 

Loài mới của giống Goniopsarites cho thấy mối quan hệ rất chặt chẽ giữa khu hệ động vật ở Đông Nam Trung Quốc và Hải Nam với khu hệ động vật ở miền Bắc Việt Nam. Nó cũng cho thấy tầm quan trọng của việc sử dụng các đặc điểm của bộ phận sinh dục con đực khi xác định tên các loài có rầy. Loài Goniopsarites tonkinensis dường như khá phổ biến trong môi trường sống phù hợp như ở Vườn Quốc gia Ba Bể. Tuy nhiên, các yêu cầu sinh thái chính xác của nó vẫn cần được xác định.

 

loairaymoi.2

Goniopsarites tonkinensis Constant & Pham, 2016: A, nhìn từ mặt lưng. B, nhìn từ mặt bên. C, nhìn từ nửa bên. D, nhìn từ mặt bụng. E, nhìn từ phía trán. F, nhìn từ trước trán

 

Mô tả chi tiết của các loài được đăng tải trên Tạp chí Côn trùng học của Bỉ (Belgian Journal of Entomology 40: 1-16 (2016). Tên bài báo: Constant, J., Pham, H.T., 2016. Two new Nogodinidae from Vietnam in the genera Orthophana Melichar, 1923 and Goniopsarites Meng, Wang & Wang, 2014 (Hemiptera: Fulgoromorpha: Nogodinidae). Belgian Journal of Entomology 33: 1-16. urn:lsid:zoobank.org:pub:1C2B29AC-B426-4665-9121-7ADFD94090E3.

 

Nguồn tin: Phạm Hồng Thái, Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam

Xử lý tin: Thanh Hà - VAST.

Trở lại      In      Số lần xem: 274

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD