Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Lúa hữu cơ trong hệ thống canh tác lúa tôm

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  17
 Số lượt truy cập :  15695159
Công nghệ kiểm soát sinh học
Thứ năm, 08-06-2017 | 07:42:18

Như đã diễn ra trong cuộc Cách mạng Xanh, những đột phá công nghệ có triển vọng xuất hiện nhất trong nông nghiệp đến năm 2040 nhiều khả năng sẽ từ tạo giống cây trồng để cải thiện các đặc điểm thực vật mong muốn. Sự khác biệt trong tạo giống cây trồng hiện tại so với 50 năm trước là sự có mặt của các công cụ dựa trên sinh học phân tử, kiểm soát sinh học, các công cụ này đã cung cấp nhiều hiểu biết về cấu tạo di truyền của thực vật và mối quan hệ của nó với các tính trạng nông học quan trọng liên quan đến năng suất cây trồng. Công nghệ kiểm soát sinh học là một trong các công nghệ nâng cao năng suất cây trồng.


Mặc dù hầu hết nông dân sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ hay cây trồng biến đổi gen để kiểm soát sâu bệnh và cỏ dại, nhưng công nghệ kiểm soát sinh học là một sự thay thế cũng đã được sử dụng. Kiểm soát sinh học bao gồm phát thả một kẻ thù tự nhiên cụ thể (ký sinh trùng, động vật ăn thịt, hoặc các mầm bệnh trong tự nhiên) để kiểm soát cỏ dại xâm lấn và côn trùng, giun tròn và các mầm bệnh thực vật. Công nghệ này đòi hỏi phải nghiên cứu sâu rộng về một loại sâu hại cụ thể trong một khu vực cụ thể và cho một cây trồng cụ thể. Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) và một số trường đại học có các chương trình nghiên cứu kiểm soát sinh học nhằm vào các sâu bệnh cụ thể. Các dự án kiểm soát sinh học của USDA bao gồm kiểm soát cá dòng cây họ cam quýt châu Á với một ký sinh, kiểm soát châu chấu bằng các nấm bệnh và kiểm soát cây xa cúc Nga bằng ruồi mật. Dự án Nghiên cứu Đích mục tiêu Cụ thể của EU đang nghiên cứu việc tăng cường và khai thác các tác nhân kiểm soát sinh học thổ nhưỡng để quản lý hạn chế sinh học trong các cây trồng. Tổ chức Bảo vệ thực vật Địa Trung Hải và châu Âu có một danh sách dài các tác nhân kiểm soát sinh học được sử dụng rộng rãi trong 50 quốc gia thành viên. Mặc dù công nghệ kiểm soát sinh học đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ, nhưng nó có thể có tác động ngày càng tăng trong tương lai khi những lo ngại về việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học tăng lên.

Kiểm soát sinh học là một thành phần của Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), là một quá trình để quản lý vấn đề sâu bệnh kết hợp với các kiểm soát sinh học, nuôi trồng, vật lý và hóa học để giảm tối thiểu những rủi ro về kinh tế, an toàn và môi trường. Nông dân hiện đang sử dụng một số khía cạnh quản lý dịch hại tổng hợp và có thể sẽ bao gồm thêm nhiều thành phần khi các kiến thức thu được từ sinh học phân tử của sâu bệnh và cỏ dại tăng lên cùng với những lợi thế của việc giảm sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt.

Việc ứng dụng sinh học phân tử đã được các nhà khoa học trên toàn thế giới đề xuất làm phương tiện để kiểm soát sinh học và thuốc trừ sâu sinh học hiệu quả hơn bằng cách nâng cao tỷ lệ thành công, hiệu năng và độ tin cậy của chúng. Kỹ thuật di truyền có thể tăng tốc độ tiêu diệt sâu bệnh, giảm số lượng ban đầu của các tác nhân kiểm soát sinh học cần thiết, và kéo dài hiệu lực của các tác nhân. Công nghệ này mới ở giai đoạn đầu phát triển. Một ví dụ về tiềm năng của nó là các nhà khoa học tại Viện khoa học sinh học Thượng Hải (Trung Quốc) và Đại học Maryland (Hoa Kỳ) đã tăng độc tính của một loại nấm côn trùng bằng cách sử dụng chuyển gen từ một con bọ cạp có một chất độc thần kinh đối với côn trùng cụ thể. Các loại nấm biến đổi gen có độc tính của nó đối với sâu trong cây thuốc lá tăng 22 lần. Một nghiên cứu khác đã chứng minh cho thấy các virus và nấm biến đổi gen cực độc kiểm soát sâu bệnh và cỏ dại. Tuy nhiên, do kiểm soát sinh học biến đổi gen vẫn còn trong giai đoạn phát triển ban đầu, nên nó sẽ không có khả năng có tác động rõ ràng đến nông nghiệp vào năm 2040.

NASATI, theo Global Food Security: Emerging Technologies to 2040

Trở lại      In      Số lần xem: 111

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Phát triển công nghiệp nông thôn (CNNT) của Đài Loan và Trung Quốc: kinh nghiệm đối với Việt Nam
  • EU ủng hộ hạn chế nhiên liệu sinh học từ cây lương thực
  • Cuộc cách mạng lúa gạo
  • Chính sách lúa gạo “phản tác dụng” của Thái Lan
  • Anh - Nhật chia nhau Nobel Y học 2012
  • Nông thôn mới tại Đài Loan
  • PHÒNG MẠCH THÚ Y Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam
  • Hội nghị Xúc tiến đầu tư ngành chăn nuôi năm 2012
  • Mạng lưới các trung tâm lương thực thực phẩm tại Georgia, Mỹ giúp kết nối nông dân với thị trường
  • Giải pháp giúp nông dân Croatia ứng phó với loài ruồi gây hại
  • Việt Nam chú trọng đến vấn đề bảo hộ nguồn gen
  • Công nghệ cao - Lực đẩy mới cho nông nghiệp TPHCM
  • Tầm quan trọng của nghiên cứu đánh giá phát thải khí Amoniac tại các cơ sở nuôi lợn ở Mỹ
  • Sự khác biệt giữa quỹ khoa học quốc gia Mỹ và Việt Nam
  • Mô hình hợp tác xã đảm bảo sự phát triển bền vững
  • Chiến lược phát triển nông thôn bền vững
  • 27.509 tỷ đồng để giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015
  • Thông báo tình hình dịch hại lúa Thu Đông-Mùa 2012 ở Nam bộ.
  • Báo cáo của Liên Hợp Quốc về hiện trạng nông nghiệp trên toàn thế giới
  • Quản lý khoa học: Tự chủ như thế nào?
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD