Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Trung Tâm NC Khoai tây, Rau và Hoa, trồng rau Hàn Quốc theo VietGap

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  18
 Số lượt truy cập :  29090329
Điều chỉnh quy định về sử dụng thuốc trừ sâu trong đất châu Âu
Thứ năm, 18-08-2022 | 08:32:40

Các sản phẩm bảo vệ thực vật gây lo ngại vì việc áp dụng chúng có thể ảnh hưởng đến một số sinh vật đất được coi là loài không phải mục tiêu và có thể rất nhạy cảm với một số loại thuốc trừ sâu nhất định. Cơ quan An toàn và Thực phẩm châu Âu (EFSA, cơ quan quản lý các hoạt động nông nghiệp, sử dụng các sản phẩm bảo vệ thực vật, v.v. ở cấp độ châu Âu) đã phát triển một hướng dẫn và một công cụ phần mềm có tên là Mô hình Phân tích Độ bền trong Đất (PERSAM) để thực hiện đánh giá mức độ phơi nhiễm trong đất.

 

Bản đồ phân bố các nồng độ quan sát được trong đất và trong dung dịch đất (ở độ sâu 1 cm) sau khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật esfenvalerate. Có sự khác biệt về nồng độ giữa hai loại ngăn (a so với b), cũng như khác biệt về nồng độ giữa các vùng khác nhau, mặc dù việc áp dụng thuốc bảo vệ thực vật ở châu Âu là như nhau. - Nguồn: UPV/EHU.
 

Manu Soto giải thích: Cho đến nay, chương trình PERSAM đã giúp tính toán nồng độ có thể được dự đoán trước của một loại thuốc bảo vệ thực vật nhất định. Chúng tôi hiện đã chỉ ra các rủi ro tiềm ẩn của các nồng độ này và các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro đó, không chỉ xem xét điều kiện đất đai mà còn xem xét loại cây trồng và loại thuốc trừ sâu được sử dụng.

 

Các đặc điểm của đất và các biến số môi trường thay đổi dọc theo trục vĩ độ trên khắp lục địa châu Âu, ảnh hưởng đến nồng độ môi trường được dự đoán, mức độ độc hại đối với quần thể sinh vật đất và do đó đặc trưng cho rủi ro. Nếu độc tính khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của đất, không thể tuân theo logic của việc áp dụng một liều duy nhất trên toàn châu Âu, vì một liều có thể không có tác dụng ở Thụy Điển, nhưng có thể gây ảnh hưởng ở Tây Ban Nha hoặc Pháp. Điều cần thiết là phát triển một phương pháp đánh giá dựa trên cảnh quan có tính đến sự khác biệt của khu vực.

 

Vì vậy, các thành viên của Khoa Động vật học và Sinh học Tế bào Động vật đã nghiên cứu ảnh hưởng của bốn loại thuốc trừ sâu đối với hai loại sinh vật khác nhau ở các vùng khác nhau của bắc, trung và nam châu Âu. Nghiên cứu được thực hiện với giun đất và giun xoắn hay còn gọi là collembola, vì giun đất bị ảnh hưởng bởi sự ô nhiễm trong đất. Tùy thuộc vào chế độ ăn uống và nhu cầu của từng sinh vật, một số sinh vật dễ bị tổn thương hơn những sinh vật khác do ô nhiễm có trong ngăn đất này hay ngăn đất khác. Nhóm nghiên cứu cho rằng nhiều yếu tố phải được tính đến khi tính toán rủi ro.

 

Trong nghiên cứu được thực hiện, nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng các rủi ro phát sinh từ nồng độ khác nhau rất nhiều giữa ngăn đất này và ngăn đất khác. Họ chỉ ra rằng, với mục đích điều chỉnh các quy định, vấn đề này cần được tính đến bên cạnh những biến động có thể có giữa các khu vực Châu Âu khác nhau. Có thể thấy rất nhiều sự khác biệt giữa miền bắc và miền nam của châu Âu, nhưng cũng có thể xảy ra trong từng khu vực.

 

Các nhà nghiên cứu cho biết: Vấn đề là tính toán rủi ro tốt hơn, và không chỉ bám vào nồng độ thuốc trừ sâu, vì chúng có thể rất khác nhau. Việc tính đến các đặc tính của đất là một bước tiến lớn của nghiên cứu.

 

Lê Hồng Vân - Mard, theo Sciencedaily.

Trở lại      In      Số lần xem: 75

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD