Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Triển vọng giống đậu nành HLĐN910 trên đất trồng tiêu

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  22
 Số lượt truy cập :  20438533
Dụng cụ cảm biến ánh sáng giúp người trồng hiểu biết thêm về nitơ
Thứ hai, 04-02-2019 | 05:53:58

Description: C:UsersTRUCDesktop190116090647_1_540x360.jpg

Một sinh viên sử dụng cảm biến tán hoạt động GreenSeeker trong một cánh đồng lúa mì vụ đông. Dữ liệu thu thập được sẽ giúp xác định trạng thái nitơ của cây trồng. Nguồn: Yuxin Miao.

 

Không có đủ nitơ, cây trồng không phát triển tốt, sản lượng giảm đáng kể. Mặt khác, bón phân quá nhiều, có thể gây hại cho môi trường. Nitơ có thể xâm nhập vào lưu vực sông, gây ô nhiễm hệ sinh thái dưới nước. Vi khuẩn cũng có thể chuyển đổi nitơ dư thừa thành nitơ oxit, một loại khí nhà kính có liên quan đến biến đổi khí hậu.

 

Yuxin Miao làm việc tại Đại học Minnesota cho rằng "Quản lý nitơ rất quan trọng đối với an ninh lương thực toàn cầu và cũng rất quan trọng để giảm ô nhiễm và biến đổi khí hậu".

 

Miao và các đồng nghiệp đã nghiên cứu cách để quản lý hiệu quả nitơ trong nông nghiệp thông qua việc so sánh một số cách tiếp cận. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng một phương pháp quản lý nitơ dựa trên cảm biến tán hoạt động là hiệu quả nhất.

 

Quản lý nitơ dựa trên cảm biến sử dụng các cảm biến ánh sáng để chủ động theo dõi sức khỏe và sức sống của cây trồng. Các cảm biến đo bước sóng ánh sáng khác nhau đến từ lá. Các phép đo này đại diện cho sức khỏe cây trồng.

 

Dựa trên các phép đo tại đồng ruộng, phần mềm cảm biến có thể tính toán lượng nitơ cần thiết. Nông dân có thể sử dụng những dữ liệu này để áp dụng tối ưu lượng nitơ cho cây trồng.

 

Với mục tiêu "cân đối nguồn cung cấp nitơ và nhu cầu nitơ của cây trồng". Điều đó cho phép cây trồng tiếp cận với phân bón nitơ đúng thời điểm. Đổi lại, điều đó có thể làm tăng năng suất.

 

Cách tiếp cận này có một số lợi ích so với các chiến lược quản lý nitơ khác. "Nó làm giảm ứng dụng phân bón nitơ tổng thể", Miao nói. "Nó cũng làm giảm thất thoát nitơ vào môi trường và giảm lượng khí thải nitơ oxit".

 

Hệ thống dựa trên cảm biến tán cũng có một số lợi thế khác: sử dụng các cảm biến nhanh chóng và không phá hủy, không có chi phí bổ sung ngoài việc mua các cảm biến. Ngoài ra, các mẫu cảm biến mới nhất không bị ảnh hưởng bởi ánh sáng môi trường. Điều đó có nghĩa là người trồng có thể có được một phép đo chính xác mà không phụ thuộc vào thời tiết.

 

Theo Miao, "Công nghệ này có thể làm giảm việc sử dụng phân bón nitơ", "Nông dân có thể giảm chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận kinh tế".

 

Để thử nghiệm các chiến lược quản lý nitơ khác nhau, Miao và các đồng nghiệp đã thực hiện các thí nghiệm thực địa từ năm 2008 đến 2012. Địa điểm nghiên cứu ở tỉnh Hà Bắc miền bắc Trung Quốc. Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm các chiến lược khác nhau trên hệ thống luân canh lúa mì mùa đông và ngô mùa hè.

 

Một số chiến lược quản lý nitơ khác được thử nghiệm làm giảm việc sử dụng phân bón. Nhưng tất cả đều có nhược điểm, ví dụ, có những hạn chế về công lao động, thời gian và chi phí.

 

Miao hy vọng các hệ thống cảm biến này sẽ vươn xa với phạm vi toàn cầu. "Chiến lược quản lý nitơ này sẽ có tác dụng với các loại cây trồng chủ lực ở nhiều quốc gia".

 

Nhưng Miao nghĩ rằng nông dân không thể làm điều đó một mình. Nông dân, nhà nghiên cứu và nhà cung cấp dịch vụ sẽ cần phải làm việc cùng nhau. "Điều đó có thể tạo điều kiện cho việc áp dụng rộng rãi hệ thống này, đặc biệt là ở các nước đang phát triển".

 

Đỗ Thị Thanh Trúc theo Sciencedaily.

Trở lại      In      Số lần xem: 93

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD