Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cây cà phê Việt Nam

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  23
 Số lượt truy cập :  16775224
Giải pháp đơn giản để phân tích thành phần cơ giới đất nhanh chóng và hiệu quả là sử dụng thiết bị quang phổ
Thứ tư, 13-09-2017 | 08:23:22

Nguồn: Cecilie Hermansen, Maria Knadel, Per Moldrup, Mogens H. Greve, Dan Karup, Lis W. de Jonge. Complete Soil Texture is Accurately Predicted by Visible Near-Infrared Spectroscopy. Soil Science Society of America Journal, 2017; 81 (4): 758 DOI: 10.2136/sssaj2017.02.0066

TÓM TẮT

Các phương pháp phân tíchthành phần cơ giới đất truyền thống thì chậm. Các nhà nghiên cứu đã tìm ra một phương pháp kỹ thuật cao mới mà nhanh, hiệu quả và tiện lợi. Kỹ thuật này có thể làm cho việc phân tích đất dễ dàng hơn nhiều để hiểu được thành phần cơ giới đất ở một khu vực cụ thể - hoặc thậm chí ở các khu vực lớn trên toàn cầu.

 

Chuẩn bị mẫu đất để đo bằng quang phổ hồng ngoại có thể nhìn thấy được. Mẫu đất đã được phơi khô ngoài trờisàng qua ray 2mm rồi được cho vào một cốc chứa mẫu quay tròn quanh một điểm cố định có tấm kính bằng thạch anh trong suốt. Credit: Maria Knadel

 

Những người nông dân và người làm vườn nắm được thành phần cơ giới đất của vườn họ có thể tạo ra sự khác biệt lớn đối với thành công của họ. Các cây trồng khác nhau có nhu cầu khác nhau về nước, chất dinh dưỡng và không khí. Khi cây trồng phát triển trong đất có thành phần cơ giới thích hợp thì sẽ dễ dàng điều tiết đúng lượng nước, phân bón, hoặc thuốc trừ sâu cho cây trồng. Do đó cây trồng sẽ phát triển tốt hơn.

 

Các phương pháp phân tích thành phần cơ giới đất truyền thống thì chậm. Các nhà nghiên cứu Đan Mạch đã tìm ra một phương pháp kỹ thuật cao mới nhanh, tiết kiệm chi phí và tiện lợi. Kỹ thuật này có thể làm cho việc phân tích đất dễ dàng hơn nhiều đối với thành phần cơ giới đất của một khu vực cụ thể - hoặc thậm chí trên các khu vực lớn trên toàn cầu.

 

Thành phần cơ giới đất là một trong những tính chất cơ bản của đất mà chúng ta có thể tính toán được. Đất được hình thành do sự kết hợp của các hạt hoặc các phần tử rất nhỏ, hoặc các khoáng chất. Nó cũng có thể chứa các hạt vật chất hữu cơ từ thực vật và động vật. Các phần tử khoáng được phân thành ba nhóm theo kích cỡ của chúng:

 

Các phần tử nhỏ nhất được sếp vào nhóm hạt sét. Những hạt vô cùng cực nhỏ này nhìn giống như bột mịn. Diện tích bề mặt của chúng có phản ứng nên có thể giữ nước, các chất dinh dưỡng, và muối. Các phần tử nhỏ trong nhóm tiếp theo, được xếp vào hạt thịt thì không hoàn toàn đúng dù là những hạt nhỏ. Chúng vẫn nhìn giống như bột nhưng gần như không có phản ứng giống như là hạt sét. Các phần tử lớn nhất được sếp vào hạt cát. Bạn có thể nhìn thấy từng hạt cát bằng mắt thường. Hạt cát không có bề mặt phản ứng, vì vậy nó không hấp thụ nước cũng như chất dinh dưỡng.

 

Xác định thành phần cơ giới đất có nghĩa là tìm ra được bao nhiêu phần trăm hạt sét, hạt thịt và hạt cát có trong đất. Thành phần cơ giới của đất cho biết độ nén chặt hoặc độ tơi xốp của đất. Thành phần cơ giới đất cũng ảnh hưởng đến tốc độ thoát nước nhanh của đất sau cơn mưa. Một số cây trồng có lẽ chủ yếu thích hợp hơn với đất cát. Một số cây trồng khác có lẽ thích hợp hơn với loại đất có hàm lượng sét cao hơn.

 

Nhóm nghiên cứu bao gồm các nhà khoa học chuyên sâu về các lĩnh vực khác nhau về khoa học đất. Về lý tính và địa chất đất có những khái niệm khác nhau về phạm vi kích cỡ hạt đối với các phần tử sét và thịt, đó là tùy thuộc vào kích cỡ của các phần tử mà được xếp vào thành phần sét hay là thành phần thịt. Nhà khoa học đất Cecilie Hermansen của Đại học Aarhus cho biết: "Điều này có thể làm cho các nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau nhầm lẫn khi họ cố gắng làm việc cùng với nhau. Vì vậy, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một giải pháp để khắc phụ trở ngại này. Họ đã cố gắng sử dụng kỹ thuật đang được sử dụng rồi để nghiên cứu các đặc tính khác của đất.

 

Quang phổ phản xạ khuếch tán hồng ngoại có thể nhận biết được (còn gọi tắt là vis-NIRS) là một phương pháp đo mức độ hoạt động trong phạm vi biểu kiến​​ và ngay khi vượt ra ngoài phạm vi biểu kiến. Các cảm biến vis-NIRS có thể phát hiện ra sự khác biệt về kích cỡ hạt do cách thức các cảm biến vis-NIRS phát tán ra ánh sáng. Nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra vis-NIRS có thể cung cấp các thông số chi tiết của thành phần cơ giới đất mà không phụ thuộc vào các định nghĩa khác nhau của các nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau dùng để mô tả về cấp hạt sét, thịt và cát.

 

Chúng ta hãy quay lại làm thế nào quang phổ phản xạ khuếch tán hồng ngoại có thể nhận biết được (còn gọi tắt là vis-NIRS), có thể giúp người nông dân hoặc người làm vườn. Một số lượng tương đối của hạt sét, thịt, và cát trong đất có thể biến động lớn trên cùng một mảnh đất riêng lẻ. Với các cảm biến vis-NIRS di động, Hermansen cho biết, nhiều mẫu đất có thể được thu thập và phân tích nhanh chóng ngay ngoài đồng ruộng. "Một người quản lý cảnh quan có thể muốn trồng nhiều loại cây trồng trên khắp công viên công cộng", bà lưu ý. "Một bản đồ đất thể hiện các loại đất khác nhau có thể giúp người làm vườn lựa chọn được loài cây trồng nào là phù hợp nhất cho các địa điểm khác nhau trong công viên".

 

Quy mô của kỹ thuật này vẫn đang mở rộng. Một ngày nào đó, các cảm biến xuất phát từ sử dụng máy bay và vũ trụ trong không gian có thể tạo ra dữ liệu để lập ra bản đồ chi tiết về các đặc tính của đất, bao gồm thành phần cơ giới đất trên khắp toàn cầu.

 

Nguyễn Tiến Hải theo Sciencedaily.

Trở lại      In      Số lần xem: 2258

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD