Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Triển vọng giống đậu nành HLĐN910 trên đất trồng tiêu

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  10
 Số lượt truy cập :  20108123
Hạn hán làm tăng nồng độ CO2 trong không khí
Thứ bảy, 15-09-2018 | 07:29:51

Các nhà khoa học tại Viện Công nghệ liên bang Thụy Sỹ (ETH) đã chỉ ra rằng trong những năm khô hạn, nồng độ CO2 trong khí quyển tăng nhanh do các hệ sinh thái bị sức ép hấp thụ ít cacbon hơn. Hiệu ứng toàn cầu này mạnh đến mức cần được kết hợp vào các mô hình khí hậu trong tương lai.


Các hệ sinh thái đất hấp thụ trung bình 30% lượng CO2 do con người thải ra, qua đó làm giảm tình trạng gia tăng CO2 trong khí quyển. Nhưng thực vật cần có nước để sinh trưởng. Khi hạn hán xảy ra và đất trở nên khô cằn, thực vật giảm quang hợp và hô hấp để bảo tồn nước và bảo vệ mô. Kết quả là thực vật không thể thu CO2 từ không khí trong môi trường xung quanh. Dù hiệu ứng này có thể dễ dàng được quan sát thấy trong phòng thí nghiệm, nhưng việc đo lường tác động của hiệu ứng trên khắp hành tinh lại khá khó khăn. Một trong những thách thức lớn nhất là đo vị trí và tần suất hạn hán xảy ra trên toàn cầu. Trong một nghiên cứu mới, Vincent Humphrey, nhà nghiên cứu khí hậu tại phòng thí nghiệm của Giáo sư về động đất và khí hậu, Sonia Seneviratne, đặt tại ETH Zurich, đã sử dụng công nghệ vệ tinh hiện đại để đo độ nhạy của các hệ sinh thái trên toàn cầu trước tình trạng thiếu nước. Nghiên cứu đã được thực hiện với sự hợp tác của Phòng thí nghiệm Khoa học khí hậu và môi trường của Pháp và trường Đại học Exeter (Vương quốc Anh).

Sử dụng vệ tinh để đo hạn hán

Thực vật thường lấy nước ở sâu trong đất thông qua rễ của chúng. Tuy nhiên, các vệ tinh thông dụng chỉ quan sát thấy những gì xảy ra trên bề mặt, mà không thể đo lượng nước ngầm sẵn có. Trong vài năm qua, một loại vệ tinh mới đã được sử dụng để đo những thay đổi cực nhỏ trong trường hấp dẫn của Trái đất. Kết quả đã phát hiện ra một số nhiễu loạn nhỏ của trường hấp dẫn bắt nguồn từ những thay đổi về khả năng lưu trữ nước. Khi hạn hán lớn xảy ra tại một khu vực nhất định, thì trong khu vực đó, khối lượng nước sẽ ít hơn và trọng lực sẽ yếu hơn một chút. Những thay đổi này quá nhỏ đến mức con người không thể nhận ra. Nhưng nhờ sử dụng các vệ tinh, nhóm nghiên cứu có thể đánh giá những thay đổi trên diện rộng về khả năng lưu trữ nước với độ chính xác trong phạm vi khoảng 4 cm trên khắp hành tinh.

Dựa vào các quan trắc mới từ vệ tinh về khả năng lưu trữ nước, các nhà khoa học có thể đo lường tác động tổng thể của hạn hán đến quá trình quang hợp và hô hấp của hệ sinh thái. Nhóm nghiên cứu đã so sánh những thay đổi hàng năm về tổng khối lượng nước trên tất cả các lục địa với các số đo trên toàn cầu về sự gia tăng CO2 trong khí quyển. Kết quả cho thấy trong những năm khô hạn nhất như năm 2015, các hệ sinh thái tự nhiên đã hấp thụ cacbon trong khí quyển ít hơn khoảng 30% so với một năm bình thường. Vì thế, nồng độ CO2 trong khí quyển năm 2015 tăng nhanh hơn so với các năm khác. Trong năm 2011 - năm ẩm ướt nhất, nồng độ CO2 tăng tốc chậm hơn nhiều do thảm thực vật khỏe mạnh. Các kết quả này giúp chúng ta hiểu lý do sự gia tăng CO2 trong khí quyển có thể thay đổi nhiều từ năm này sang năm khác, dù phát thải CO2 từ các hoạt động của con người tương đối ổn định.

Cần theo dõi phát thải

Trong thế kỷ qua, nồng độ CO2 trong khí quyển đã tăng đều do hoạt động của con người. Vincent Humphrey cho biết: “Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều nhất trí nên hạn chế lượng khí thải CO2, nhưng chúng ta đang phải đối mặt với thách thức trong việc theo dõi phát thải CO2 do con người tạo ra với độ chính xác cao chưa từng có”. Để đánh giá chính xác tác động của các chính sách khí hậu, trước hết, các nhà nghiên cứu phải lập các mô hình thực vật với khả năng định lượng và dự báo các nhiễu loạn có thể xuất hiện hàng năm thông qua các hệ sinh thái tự nhiên. Theo Sonia Seneviratne, dựa vào các kết quả mới, có thể chứng minh được rằng những ảnh hưởng của hạn hán mạnh mẽ hơn so với mức cho đến nay đã được đánh giá thông qua các mô hình thực vật. Những quan sát này sẽ được kết hợp vào những mô hình trong tương lai để tăng khả năng theo dõi phát thải CO2.

 

N.T.T - NASATI, theo Phys.org

Trở lại      In      Số lần xem: 117

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Phát triển công nghiệp nông thôn (CNNT) của Đài Loan và Trung Quốc: kinh nghiệm đối với Việt Nam
  • EU ủng hộ hạn chế nhiên liệu sinh học từ cây lương thực
  • Cuộc cách mạng lúa gạo
  • Chính sách lúa gạo “phản tác dụng” của Thái Lan
  • Anh - Nhật chia nhau Nobel Y học 2012
  • Nông thôn mới tại Đài Loan
  • PHÒNG MẠCH THÚ Y Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam
  • Hội nghị Xúc tiến đầu tư ngành chăn nuôi năm 2012
  • Mạng lưới các trung tâm lương thực thực phẩm tại Georgia, Mỹ giúp kết nối nông dân với thị trường
  • Giải pháp giúp nông dân Croatia ứng phó với loài ruồi gây hại
  • Việt Nam chú trọng đến vấn đề bảo hộ nguồn gen
  • Công nghệ cao - Lực đẩy mới cho nông nghiệp TPHCM
  • Tầm quan trọng của nghiên cứu đánh giá phát thải khí Amoniac tại các cơ sở nuôi lợn ở Mỹ
  • Sự khác biệt giữa quỹ khoa học quốc gia Mỹ và Việt Nam
  • Mô hình hợp tác xã đảm bảo sự phát triển bền vững
  • Chiến lược phát triển nông thôn bền vững
  • 27.509 tỷ đồng để giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015
  • Thông báo tình hình dịch hại lúa Thu Đông-Mùa 2012 ở Nam bộ.
  • Báo cáo của Liên Hợp Quốc về hiện trạng nông nghiệp trên toàn thế giới
  • Quản lý khoa học: Tự chủ như thế nào?
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD