Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Triển vọng giống đậu nành HLĐN910 trên đất trồng tiêu

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  10
 Số lượt truy cập :  23507694
Hạt giống được bọc lớp thuốc trừ sâu phổ biến nhưng ít được báo cáo
Thứ hai, 30-03-2020 | 11:09:37

Hạt giống được bọc các loại thuốc trừ sâu như neonicotinoids, ngày càng được sử dụng nhiều trên các loại cây trồng quan trọng nhưng ít được báo cáo, nông dân thường không biết loại thuốc trừ sâu nào được bọc trên hạt giống của họ. Ảnh: Alyssa Collin.

 

“Hạt giống được bọc lớp thuốc trừ sâu như neonicotinoids, nhiều loại có độc tính cao đối với cả côn trùng gây hại và thiên địch - ngày càng được sử dụng nhiều với các loại cây trồng chính, nhưng điều này được báo cáo rất ít so với thực tế, nông dân thường không biết các loại thuốc trừ sâu nào có trong hạt giống của họ”, theo một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế. Việc thiếu dữ liệu có lẽ làm phức tạp các nỗ lực để đánh giá giá trị của các chiến lược quản lý dịch hại khác nhau, đồng thời cũng bảo vệ sức khỏe con người và môi trường.

 

Paul Esker Phó giáo sư dịch tễ học và bệnh cây, bang Pennsylvania nói: “Chúng tôi đã xem xét các bằng chứng hiện có, cũng như dữ liệu quan trọng thuộc sở hữu của chính phủ, về cách xử lý thuốc trừ sâu được sử dụng cho hạt giống và phát hiện ra rằng nông dân không biết thuốc trừ sâu nào trên hạt giống của họ hoặc giả định rằng phương pháp xử lý hạt giống không gồm một số loại thuốc trừ sâu nào đó”. “Việc thiếu kiến thức này có thể dẫn đến việc lạm dụng thuốc trừ sâu, có thể gây hại cho môi trường và sức khỏe của nông dân”.

 

Nhóm nghiên cứu đã phân tích dữ liệu thuộc sở hữu của Kynetec, một công ty nghiên cứu và tiếp thị toàn cầu duy trì một trong những bộ dữ liệu đầy đủ nhất về việc sử dụng thuốc trừ sâu ở Hoa Kỳ, được thu thập từ năm 2004-2014. Họ phát hiện ra rằng việc xử lý thuốc trừ sâu trên hạt giống ở Hoa Kỳ đã tăng trong thập kỷ qua, đặc biệt là trong sản xuất bắp và đậu nành. Trong giai đoạn 2012 đến 2014, 90% diện tích bắp và 76% diện tích đậu nành được trồng bằng hạt giống được xử lý thuốc trừ sâu. Trong số các loại thuốc trừ sâu được áp dụng cho hạt giống, neonicotinoids chiếm khoảng 80%.


Bước tiếp theo, các nhà nghiên cứu đã phân tích phản ứng của những người nông dâu đối với các câu hỏi về hạt giống được bọc lớp thuốc trừ sâu được ghi chép trong Chương trình Khảo sát quản lý tài nguyên nông nghiệp (ARMS) – là nguồn thông tin chính của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ về các biện pháp sản xuất, sử dụng tài nguyên và tình trạng kinh tế trang trại của Mỹ. Cụ thể, họ đã đánh giá những phản ứng của những người nông dân đối với ARMS cho vụ bông vải năm 2015, vụ bắp năm 2016, lúa mì năm 2017 và đậu nành năm 2018.

 

Họ phát hiện ra rằng khoảng 98% người nông dân có thể cung cấp tên của các loại thuốc trừ sâu được áp dụng ngoài đồng dùng trên cây bông, bắp, lúa mì hoặc đậu nành của họ. Ngược lại, chỉ có 84% người trồng bông, 65% người trồng bắp, 62% người trồng đậu nành, 57% người trồng lúa mì vụ đông và 43% người trồng lúa mì vụ xuân có thể cung cấp tên của thuốc trừ sâu bọc trên hạt giống đối với cây trồng của họ. Những người còn lại không trả lời câu hỏi khảo sát hoặc họ nói không biết.
 

Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng trong năm 2015, những người trồng bông đã báo cáo rằng 13% tổng diện tích canh tác không được xử lý bằng thuốc trừ sâu và 19% không được xử lý bằng thuốc trừ nấm, đồng thời cũng báo cáo việc sử dụng các sản phẩm có chứa các loại thuốc trừ dịch hại này trên diện tích đó.
 

Kết quả công trình được đăng trên tạp chí BioScience vào ngày 17/3/2020.
 

Margaret Douglas, Phó giáo sư nghiên cứu môi trường của Đại học Dickinson cho biết “Một trong những phát hiện quan trọng nhất của nghiên cứu này là người nông dân ít biết về thuốc trừ sâu dùng cho hạt giống của họ hơn thuốc trừ sâu dùng theo những cách khác”. “Điều này có thể là do hạt giống thương mại với cách xử lý thuốc trừ sâu “mặc định” mà có chứa hỗn hợp các hoạt chất của thuốc trừ sâu khác nhau và không cần ghi trên nhãn tên thuốc trừ sâu được xử lý trên hạt giống. Không biết loại thuốc trừ sâu nào được xử lý trên hạt giống của họ, nông dân gần như không thể điều chỉnh việc sử dụng thuốc trừ sâu cho các mục tiêu sản xuất và môi trường”.
 

Theo tác giả chính của nghiên cứu, Claudia Hitaj, cộng tác viên nghiên cứu và công nghệ của Viện Khoa học và Công nghệ Luxembourg, việc thiếu thông tin về việc sử dụng phương pháp xử lý thuốc trừ sâu trên hạt giống có nghĩa rằng một tỷ lệ đáng kể sử dụng thuốc trừ sâu, đặc biệt là các hoạt chất được áp dụng gần như chuyên dùng cho xử lý hạt giống, không được ghi lại trong các bộ dữ liệu sử dụng thuốc trừ sâu hiện có.
 

Cô nói “Các dữ liệu đáng tin cậy về việc sử dụng thuốc trừ sâu là cần thiết cho nhà quản lý, người nông dân và nhà nghiên cứu để tăng sản lượng nông nghiệp và lợi nhuận và để bảo vệ sức khỏe con người và môi trường khỏi tác động bất lợi của thuốc trừ sâu”.

 

Bằng cách so sánh dữ liệu của Kynetec thu thập trong giai đoạn 2004-2014 với dữ liệu thu thập năm 2015, khi Kynetec ngừng cung cấp thông tin về xử lý thuốc trừ sâu trên hạt giống, nhóm nghiên cứu đã thấy sự giảm đáng kể việc sử dụng thuốc trừ sâu được sử dụng cho xử lý hạt giống. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng clothianidin như một ví dụ về những gì có thể xảy ra như là kết quả theo dõi kém việc sử dụng thuốc trừ sâu được xử lý trên hạt giống.
 

Aimee Code, giám đốc chương trình thuốc trừ dịch hại, Hiệp hội Bảo tồn động vật không xương sống Xerces cho biết “Việc không đưa dữ liệu dùng thuốc trừ sâu xử lý hạt giống vào cơ sở dữ liệu khiến việc sử dụng clothianidin dường như giảm từ hơn 1,5 triệu kg/năm trong năm 2014 xuống còn chưa đến một phần mười triệu kg/năm vào năm 2015”. “Clothianidin hiện đang được Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ xem xét, vì vậy dữ liệu bị mất này gây khó cho việc đảm bảo tính chính xác về đánh giá rủi ro”.
 

Nhóm nghiên cứu kết luận rằng người nông dân, nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý có thể được hưởng lợi từ việc dán nhãn cải tiến của hạt giống được xử lý thuốc trừ sâu và đăng thông tin về các thành phần hoạt chất có trong các sản phẩm hạt giống được xử lý lên các trang thông tin điện tử phổ biến. Ngoài ra, thông tin có thể được thu thập thông qua dữ liệu bán hàng từ các nhà bán lẻ hạt giống và các công ty khác. Và thông tin về địa điểm trồng của hạt giống được xử lý thuốc trừ sâu có thể giúp đánh giá tính kháng sâu hại và tác động cục bộ của thuốc trừ sâu đối với môi trường.
 

Esker nói “Việc người nông dân thiếu hiểu biết về thuốc trừ sâu xử lý trên hạt giống là một ví dụ về lý do tại sao cần duy trì một hệ thống khuyến nông mạnh ở trường đại học để cung cấp thông tin cập nhật về các phương pháp xử lý hạt giống khác nhau, những loại thuốc trừ sâu nào dùng để xử lý hạt giống và công bố những kết quả của dữ liệu thực nghiệm”. “Đây cũng là cơ hội để hợp tác hơn nữa giữa các chuyên ngành khác nhau như nông học, bệnh cây, dịch tễ học, kinh tế và khoa học môi trường, để giải quyết các vấn đề của trang trại từ góc độ toàn hệ thống”.

 

Nguyễn Tiến Hải theo Sciencedaily.

Trở lại      In      Số lần xem: 333

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD