Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Trung Tâm NC Khoai tây, Rau và Hoa, trồng rau Hàn Quốc theo VietGap

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  6
 Số lượt truy cập :  27133213
Khác biệt về sự quang hợp giữa lúa hoang và lúa thuần
Thứ năm, 11-11-2021 | 07:20:22

Máy phân tích khí hồng ngoại với một lá lúa. Lá được đặt bên trong một cuvette trong đó các điều kiện liên quan đến cường độ ánh sáng, nồng độ CO2, độ ẩm tương đối và nhiệt độ có thể được kiểm soát. Ảnh: Viện lúa quốc tế IRRI.

 

Lúa là nguồn cung cấp lương thực chính cho hàng triệu người ở châu Á. Được cho là đã thuần hóa từ 6000 năm trước Công nguyên, lúa là một trong những nguồn cung cấp calo quan trọng trên toàn cầu. Trong một nghiên cứu mới từ dự án RIPE, các nhà nghiên cứu đã so sánh lúa thuần với lúa hoang để tìm hiểu sự khác biệt về khả năng quang hợp của chúng. Kết quả có thể giúp cải thiện năng suất lúa trong tương lai.

 

Các loài lúa hoang Oryza rufipogonOryza nivara thường giống với cỏ dại và cao hơn lúa trồng Oryza sativa. Mặc dù những đặc điểm này hữu ích trong tự nhiên, vì chúng có thể lẩn ác các đối thủ cạnh tranh, nhưng chúng không thuận lợi trong môi trường canh tác nông nghiệp vì năng suất thấp. Thông qua quá trình thuần hóa và lai tạo, nhiều giống lúa đã được chọn lọc là các giống lúa thấp cây, lá mọc thẳng, có góc dốc, giúp phân bố ánh sáng qua tán tốt hơn. Dù lúa thuần đã được cải thiện, nhưng sự phân bố ánh sáng vẫn luôn không đồng đều và luôn bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của gió và mây che phủ.

 

Liana Acevedo-Siaca, tác giả chính của bài báo này, là nghiên cứu sinh tại phòng thí nghiệm Long (Long lab) cho biết khi công trình này được tiến hành: "Trước đây, các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào quá trình quang hợp trong điều kiện ánh sáng đầy đủ liên tục. Tuy nhiên, ở trên cánh đồng, thực vật luôn ở trong điều kiện biến động và lá hiếm khi ở trong điều kiện được chiếu sáng liên tục, do sự di chuyển của mặt trời, do mây che ánh nắng, gió làm lá chuyển mình tạo bóng râm. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu mới chỉ xem xét lúa thuần trong bối cảnh cảm ứng quang hợp. Chúng tôi muốn so sánh chúng với tổ tiên của chúng để tìm hiểu những thay đổi theo thời gian".

 

Khi môi trường ánh sáng thay đổi từ bóng râm sang nắng và ngược lại, có một số thay đổi quang hợp xảy ra ở lá. Trong quá trình chuyển từ ánh sáng cường độ thấp sang ánh sáng cường độ cao, lá bắt đầu hấp thụ nhiều khí cacbonic hơn để quang hợp, một quá trình được gọi là cảm ứng quang hợp. Trên cánh đồng, quá trình này xảy ra nhiều lần trong ngày, việc điều chỉnh quá trình quang hợp có thể không diễn ra ngay lập tức, nên nó làm giảm hiệu suất quang hợp trong suốt một ngày và một mùa sinh trưởng. Ngược lại, trong quá trình chuyển từ ánh sáng cường độ cao sang ánh sáng cường độ yếu, các lỗ khí khổng - những lỗ thoáng khí mà carbon dioxide, hơi nước và oxy có thể di chuyển qua - có thể đóng lại quá chậm, dẫn đến sự mất nước không cần thiết.

 

Để so sánh sự hấp thụ carbon dioxide và mất nước qua khí khổng giữa lúa hoang và lúa thuần, Acevedo-Siaca đã trồng chúng trong nhà lưới, một nhà kính có tường mở, tại Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế ở Philippines. Sử dụng máy phân tích khí hồng ngoại, kiểm soát mức độ ánh sáng để bắt chước một số dao động ánh sáng được tìm thấy trong các tán cây trồng tự nhiên và đo lượng CO2 được lá hấp thụ.

 

Acevedo-Siaca cho biết: “Chúng tôi thấy rằng mặc dù cảm ứng quang hợp diễn ra nhanh hơn rất nhiều ở các loài lúa hoang, nhưng các loài thuần lại đóng khí khổng nhanh hơn rất nhiều, dẫn đến mất nước ít hơn. Có thể là vì các loài lúa hoang O. rufipogonO. nivara phát triển trong các hệ sinh thái đa dạng hơn, có thể có nhiều cạnh tranh hơn về ánh sáng và do đó có nhiều động lực hơn để phản ứng nhanh với những thay đổi môi trường".

 

Acevedo-Siaca cho biết thêm: "Chúng tôi nhận thấy rằng có sự khác biệt trong quá trình quang hợp dưới ánh sáng dao động, nó không bị phản xạ lại như trong điều kiện ánh sáng cường độ cao liên tục được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu trước đây. Mặc dù quy mô của nghiên cứu nhỏ, nhưng hy vọng rằng kết quả này là tiền đề cho những nghiên cứu lớn hơn. Đặc điểm cảm ứng quang hợp ở các mức độ khác nhau của tán cây sẽ cung cấp thông tin cho các nghiên cứu trong tương lai vì theo lý thuyết, những chiếc lá thích nghi hơn với điều kiện ánh sáng yếu sẽ phản ứng khác với những chiếc lá ở trong điều kiện ánh sáng cường độ cao".

 

Stephen Long - chủ tịch Đại học Ikenberry Endowed University nghiên cứu về Khoa học Cây trồng và Sinh học Thực vật - cho biết: “Chúng tôi muốn biết liệu việc thuần hóa cây lúa có vô tình cải thiện hiệu quả quang hợp của nó hay không. Ngoài ra, nếu quá trình lai tạo gây bất lợi cho các đặc tính có lợi cụ thể nào đó, chúng ta có thể quay trở lại giống lúa hoang và đưa những đặc điểm đó vào lúa thuần. Chúng tôi cũng đang tiến hành công việc tương tự với các loại cây trồng khác như đậu đũa và đậu tương”.

 

Nghiên cứu có tên “Động thái cảm ứng quang hợp và sự thư giãn trong tán của lúa thuần và hai loài lúa hoang dã khác”, được công bố trên tạp chí Food Energy and Security.

 

Lê Thị Kim Loan theo Phys.org

Trở lại      In      Số lần xem: 58

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD