Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Triển vọng giống đậu nành HLĐN910 trên đất trồng tiêu

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  13
 Số lượt truy cập :  21601656
Nghiên cứu về bào tử gây bệnh gỉ sắt ở cây đậu tương
Thứ năm, 13-12-2012 | 08:50:54

Các bào tử gây bệnh gỉ sắt ở đậu tương Châu Á đang gây mối đe dọa nghiêm trọng đến ngành sản xuất đậu tương của Mỹ do mầm bệnh có thể lây lan qua gió từ khoảng cách rất xa. Các nhà nghiên cứu của trường Đại học Illinois đã tìm ra phương pháp giúp xác định sự xuất hiện của các bào tử này trong môi trường.

 

Bệnh gỉ sắt trên cây đậu tương xuất hiện lần đầu tiên tại Nhật Bản vào đầu thế kỷ 20. Bệnh gây ảnh hưởng đến lá cây, giảm hoạt động quang hợp thực vật, gây rụng lá, chết sớm, và mất năng suất. Mầm bệnh chỉ xuất hiện trên cây trồng và tiêu biến khi cây đậu tương chết hoặc khi nông dân thu hoạch đậu tương. Loại bệnh này xuất hiện tại Mỹ vào năm 2004. Bệnh xảy ra chủ yếu ở các bang miền nam. Phun thuốc diệt nấm là cách duy nhất để kiểm soát bệnh vì các nhà khoa học chưa lai tạo được giống đậu tương kháng bệnh.

Để theo dõi sự lây lan của căn bệnh này, các nhà nghiên cứu đã thiết lập một mạng lưới các khu vực trồng trọt trọng điểm (xem tại trang web http://sbr.ipmpipe.org/cgi-bin/sbr/public.cgi). Việc tạo nên các bẫy thu bào tử gây bệnh gỉ sắt đậu tương trong không khí có thể giúp thiết lập hệ thống cảnh báo sớm cho người nông dân. Tuy nhiên, đã có nhiều trường hợp bào tử gây bệnh xuất hiện trong bẫy nhưng bệnh gỉ sắt lại không xảy ra tại khu vực đó. Cho đến nay, người nông dân vẫn chưa có cách xác định bào tử gây bệnh còn sống hay đã chết nên không có giải pháp ứng phó kịp thời. Việc phun thuốc quá ít hay quá muộn đều có thể gây tình trạng suy giảm sản lượng nên họ cần quyết định có phải phun thuốc ngay hay không. Tình trạng này làm tăng chi phí sản xuất, ảnh hưởng đến chất lượng đậu tương và gây nguy hiểm cho sức khỏe con người và môi trường. Việc phun thuốc không đúng cũng gây nên các chủng bệnh kháng thuốc.  

Hartman, Ramya Vittal, một nhà nghiên cứu trong phòng thí nghiệm Nghiên cứu Bệnh đậu tương, và James Haudenshield, một nghiên cứu các bệnh ở thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ vừa phát triển một phương pháp sử dụng hai kỹ thuật nhuộm màu khác nhau để xác định khả năng phát triển bào tử. Kỹ thuật đầu tiên sử dụng hai chất nhuộm màu: carboxyfluorescein diacetate (CFDA) và iođua propidium (PI). Bào tử còn sống sẽ có màu xanh lá cây với CFDA, bào tử chết có màu đỏ với PI. Kỹ thuật thứ hai sử dụng một phương pháp thăm dò khả năng tồn tại hai màu huỳnh quang gây ra hiện tượng cấu trúc hình trụ không bào hình thành trong bào tử sống, sau đó phát huỳnh quang màu đỏ. Bào tử chết chỉ hiển thị huỳnh quang mờ nhạt. Hartman cho biết các xét nghiệm này nhanh chóng và đáng tin cậy. Việc phát hiện sớm bào tử sống gây bệnh cùng với việc sử dụng thuốc diệt nấm kịp thời có thể giúp làm chậm sự lây lan của mầm bệnh và hạn chế tối đa thiệt hại năng suất. Bước tiếp theo của nghiên cứu là tích hợp phương pháp này với việc lấy mẫu bào tử thụ động để phát triển một công cụ phát hiện và theo dõi sự chuyển động của bào tử sống P. pachyrhizi trong mùa đậu tương phát triển.

LHV - Mard, Theo phys.org.

 

Trở lại      In      Số lần xem: 1380

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD