Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cây cà phê Việt Nam

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  16
 Số lượt truy cập :  17021846
Những alen mới của pstol1 từ lúa hoang Oryza rufipogon điều khiển sự hấp thu lân có hiệu quả cao
Thứ hai, 12-06-2017 | 10:21:55

Nguồn: Neelam K, Thakur S, Neha, Yadav IS, Kumar K, Dhaliwal SS, Singh K. 2017. Novel Alleles of Phosphorus-Starvation Tolerance 1 Gene (PSTOL1) from Oryza rufipogon Confers High Phosphorus Uptake Efficiency. Front Plant Sci. 2017 Apr 11;8:509. doi: 10.3389/fpls.2017.00509. eCollection 2017.

TÓM TẮT

Khả năng lân dễ tiêu trong đất rất hạn chế là một trong những trở ngại chính cho tăng trưởng và năng suất cây lúa ở các nước thuộc châu Á, châu Phi và châu Nam Mỹ, tại đây 50% diện tích canh tác lúa là hệ sinh thái lúa nước trời, đất có vấn đề và nghèo dinh dưỡng. Nhằm mục đích xác định những alen mới sao cho sự hấp thu lân đạt hiệu quả cao của những loài lúa hoang dại Oryza rufipogon, nhóm tác giả công trình này đã nghiên cứu locus Pup 1 [phosphorus uptake1] với 11 chỉ thị phân tử SSR được công bố trước đó, rồi giải trình tự gen PSTOL1 định tính tính chống chịu sự đói lân số 1. Theo kết quả này, họ đã thanh lọc 182 mẫu giống (accessions) của loài lúa hoang O. rufipogon với giống đối chứng kháng Vandana (positive control) và chỉ thị SSRs. Kết quả phân tích cho thấy hầu hết các mẫu giống O. rufipogon đều có một đoạn phân tử xen đoạn với độ lớn 90 kb, bao gồm Pup1-K46, một chỉ thị chẩn đoán gen PSTOL1, tuy nhiên, người ta không thấy đoạn này trong lúa trồng O. sativa với các giống PR114, PR121, và PR122. Trình tự đầy đủ của gen PSTOL1 được phân tích trong 67 mẫu đặc trưng của O. rufipogon và giống lúa trồng Vandana như một đối chứng tích cực (positive control). Kết quả phân tích so sánh giữa các chuỗi trình tự, có 53 đột biến (52 chỉ thị SNPs và 1 đột biến có tti1nh chất “nonsense”) trong vùng mang mật mã của PSTOL1, trong đó, có 28 đột biến mang tính chất “missense” và 10 đột biến tương ứng với những thay đổi tính chất phân cực của amino acid. Trong 53 đột biến nói trên, chúng tương ứng với 17 haplotypes. Với 17 haplotypes như vậy, có 6 haplotypes được chia sẻ và 11 được tính theo thang điểm. Một haplotype chủ lực được người ta quan sát  có trong 44 mẫu giống lúa O. rufipogon bên cạnh giống lúa trồng Vandana và Kasalath. Ngoài 17 haplotypes nói trên, các mẫu giống đại diện cho 8 haplotypes đã được trồng trong điều kiện thiếu lân, bố trí trong chậu, pha môi trường lỏng “dinh dưỡng Yoshida” trong vòng 60 ngày. Khác biệt có ý nghĩa được ghi nhận là chiều dài rễ lúa và khối lượng rễ lúa trong tất cả các mẫu giống thí nghiệm cho trồng dưới điều kiện thiếu lân so với điều kiện đủ lân. Các mẫu thuộc loài lúa hoang O. rufipogon là IRGC 106506 của Lào cho thấy nó chống chịu đói lân tốt nhất, gấp 2,5 lần cao hơn xét theo tính trạng khối lượng rễ và hàm lượng lân so với đối chứng Vandana. Xét theo ý nghĩa sự hữu hiệu trong hấp thu lân (P uptake efficiency), mẫu giống của O. rufipogon là IRGC 104639, 104712, và 105569 biểu hiện mạnh hơn gấp hai lần về hàm lượng P hấp thu so với Vandana. Như vậy, những mẫu giống của loài O. rufipogon này có thể được sử dụng làm nguồn vật liệu cho trong cải tiến giống lúa chống chịu thiếu lân, với hiệu quả hấp thu lân cao.

 

Xem https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/28443109

GS. Bùi Chí Bửu lược dịch.

 

Hình 2: So sánh cấu trúc protein của (A) Kasalath, (B) Oryza rufipogon accession IRGC 106336. Protein của Kasalath theo mô phỏng có “leucine rich repeat protein kinase” trong khi đó IRGC 106336 là “tyrosine protein kinase domain”. Theo kết quả giải thích của Prosite, cấu trúc của protein được giải mã của giống lúa Kasalath (có những domains màu xanh lá cây với giá trị Pfam E-value = 5.8e-45; những domains màu vàng cam với giá trị Prosite = 36.994) chỉ ra vị trí “proton acceptor” (vị trí năng động, dấu hình vuông màu đỏ trên domain vàng cam) trong khi đó, mẫu giống của O. rufipogon IRGC 106336 (có domains màu xanh lá cây, Pfam E-value = 2.4e-16; domains màu vàng cam, Prosite score = 14.054) không thấy vị trí năng động do “stop codon” xảy ra trước.

Trở lại      In      Số lần xem: 312

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD