Chào mừng QUÝ ĐỘC GIẢ đến với Trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2009)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  6
 Số lượt truy cập :  823630
Những kỹ thuật thuộc thế hệ thứ nhất của công nghệ sinh sản trên bò
Thứ sáu, 23-12-2011 | 11:09:10

Gieo tinh nhân tạo (GTNT) là kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đầu tiên, đã được sử dụng hơn 200 năm. Là một công nghệ hiện đại, GTNT với tinh dịch tươi hoặc đông lạnh đã là kỹ thuật thành công nhất và công nghệ sinh sản hiệu quả trong chăn nuôi trong sáu thập kỷ qua. Sử dụng GTNT có một tác động lớn đến các chương trình cải thiện di truyền ở các nước phát triển, góp phần tăng 1,0 đến 1,5% tỷ lệ hàng năm của tiến bộ di truyền ở bò sữa (Lohuis, 1995). Thông qua các tiến bộ di truyền đạt được bằng cách sử dụng GTNT, ước tính rằng khoảng 50% việc tăng hiệu quả sản xuất sữa quan sát thấy ở các nước phát triển trong nửa sau thế kỷ 20, là nhờ phổ biến kỹ thuật GTNT hơn phối giống thông thường, với 50% khác là nhờ tiến bộ đáng kể trong hệ thống sản xuất bao gồm cả sức khỏe đàn gia súc, quản lý tổng hợp, và dinh dưỡng (Gordon, 1994).

Việc sử dụng GTNT đã thúc đẩy sự phát triển của các chương trình hiệu quả liên quan đến động dục đồng loạt hoặc thậm chí rụng trứng, mà không có đòi hỏi phát hiện động dục. Với sự ra đời của sản phẩm prostaglandin F thương mại và sản phẩm tương tự của nó trong thập niên 1970, hệ thống động dục đồng loạt được phát triển để trợ giúp nhà sản xuất, nhằm kết hợp GTNT trong hoạt động kinh doanh bằng cách giảm thời gian và lao động trong việc phát hiện động dục. Gần đây, nhờ hiểu rõ hơn về động thái của các nội tiết tố ở con cái trong suốt chu kỳ động dục, hệ thống kinh tế và hiệu quả hơn đã phát triển để gây rụng trứng đồng loạt, cho phép người chăn nuôi tiến hành GTNT cho đàn gia súc cùng một thời điểm cố định, không cần phát hiện động dục. Các hệ thống GTNT vào thời điểm cố định đã kết hợp tốt với động dục và rụng trứng đồng loạt, và cũng tạo chù kỳ trở lại cho những gia súc không động dục. Ngoài ra các chương trình này có thể sắp xếp trước cho GTNT tại thời gian thích hợp nhất cho mỗi hoàn cảnh cụ thể.

Bảo quản đông lạnh giao tử và phôi: kỹ thuật này cũng đạt những quy trình thành công nhằm đông lạnh tinh trùng, nhằm phục vụ công tác GTNT để nhân rộng tiềm năng di truyền của những đực giống tốt (Gordon, 1994). Đông lạnh tinh trùng đã đẩy mạnh sự phát triển của chăn nuôi bò sữa, thông qua GTNT, vì vậy hiện có hơn 60% đàn bò tại Mỹ được GTNT. Ngược lại, do đặc điểm của hình thức chăn nuôi quãng canh trên khu vực rộng, nên GTNT chưa được ứng dụng mạnh trong chăn nuôi bò thịt. Tương tự như GTNT, đông lạnh phôi đã cho phép thương mại hóa toàn cầu những gia súc có phẩm chất di truyền cao.

Đông lạnh phôi là một tiến trình rất thành công trên bò trong ba thập kỷ qua, tuy nhiên phôi in vitro nhạy cảm hơn với đông lạnh so với phôi in vivo (Enright và cs, 2000). Nhiều cố gắng đã thực hiện nhằm điều chỉnh quy trình đông lạnh phôi in vitro và dường như phương pháp đông lạnh nhanh (vitrification) phù hợp cho phôi in vitro so với các phương pháp đông lạnh khác (Vieira và cs, 2006; Vieira và cs, 2007). Kỹ thuật cọng rạ OPS (Open Pulled Straw) đã cải thiện hiệu quả thành công không những của đông lạnh nhanh trứng và phôi in vitro mà còn kết hợp với phương pháp làm ấm trong cọng rạ và phương pháp hòa tan chất bảo quản đông lạnh trong kỹ thuật cấy phôi trực tiếp (Vieira và cs, 2007).

Ts. Chung Anh Dũng

 

Trở lại      In      Số lần xem: 180

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bi kịch IR50404
  • Hỗ trợ kinh phí cho Đề án giống cây trồng, vật nuôi
  • Cần nâng mức hạn điền
  • Phòng phân tích: phân tích thành phần hóa học, độc tố, chất cấm trong thức ăn và sản phẩm chăn nuôi.
  • Tin nhanh: Thăm và kiểm tra các mô hình sản xuất tại xã nông thôn mới Tân Lập
  • Ong là “monitor” rất tuyệt vời của môi trường
  • Nghiên cứu xác định bản đồ QTL gene qui định khoảng cách trổ cờ phun râu và năng xuất ngô trong điều kiện gây hạn
  • Tình hình Rầy nâu, Cục BVTV Phía Nam ngày 17-9-2011
  • Thư mời tham gia hội thảo “Con đường phát triển lúa, gạo chất lượng cao Việt Nam”
  • Hoạt động của Viện tháng 04 - 2011
  • Thứ trưởng Bùi Bá Bổng: “Sản xuất lúa thu đông là khả thi”
  • Đại sứ Ấn Độ thăm và làm việc tại Viện KHKTNN miền Nam
  • Hoa cúc từ vườn khảo nghiệm nhân rộng ra đồng
  • Ứng dụng khoa học để trồng rau trên đảo Phú Quý
  • Tính đa hình của thụ thể nhận biết hình mẫu (PRR) và các mối liên hệ với bệnh viêm phổi ở heo
  • Sản xuất thành công bao gói sinh học
  • Giá lương thực toàn cầu và an ninh lương thực ở các nước nghèo (tiếp theo)
  • Dự báo Sâu bệnh tuần từ 6-12/11/2011
  • Sản xuất lúa gạo năm tới sẽ ra sao?
  • Hội Thảo : Lúa gạo Việt Nam, sản xuất, thị trường và thương hiệu Sóc Trăng, ngày 9-11-2011
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD