Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Triển vọng giống đậu nành HLĐN910 trên đất trồng tiêu

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  6
 Số lượt truy cập :  20097325
Ong hoang dã được phát hiện là bí mật cho quả mọng tốt hơn về số lượng và chất lượng
Thứ hai, 10-12-2018 | 08:19:39

Một nghiên cứu của các nhà nghiên cứu tại Đại học Vermont (UVM) đã phát hiện ra rằng những con ong hoang dã rất quan trọng cho quả mọng tốt hơn cả về số lượng và chất lượng, vì chúng là những loài thụ phấn tốt hơn ong mật.

 

Quả việt quất

 

Nghiên cứu mới cho thấy ong hoang dã là một thành phần bí mật thiết yếu cho sản lượng việt quất lớn hơn và chất lượng tốt hơn - sản xuất quả căng mọng hơn, chín nhanh hơn.

 

Nghiên cứu, do các nhà khoa học thuộc Đại học Vermont đứng đầu, là nghiên cứu đầu tiên tiết lộ thành công rằng những con ong hoang dã không chỉ cải thiện số lượng quả việt quất, mà còn cải thiện về kích thước và các yếu tố chất lượng khác. Nó phát hiện rằng ong hoang dã mang lại lợi ích lớn cho nông dân trồng quả mọng, bao gồm: kích thước quả mọng lớn hơn (12%), số lượng (12%), độ ổn định kích thước (11%) và thu hoạch sớm hơn - 2 ngày rưỡi.

 

"Các nghiên cứu khác đã khám phá tác động của ong đối với năng suất việt quất, nhưng đây là lần đầu tiên cho thấy rằng các loài thụ phấn có thể cải thiện chất lượng cây trồng", Charles Nicholson, người đứng đầu nghiên cứu với tư cách là nghiên cứu sinh tại Viện Môi trường Gund và Trường Tài nguyên và Môi trường Rubenstein của UVM cho biết. 

 

Trong số 9 trang trại quả mọng nghiên cứu trên toàn tiểu bang Vermont, các nhà nghiên cứu ước tính rằng ong hoang dã có thể tăng sản lượng lên tới 36%, tương đương 136.000 USD mỗi năm, trên một trang trại quả mọng cỡ trung. Trên các trang trại khác, các nhà nghiên cứu xác định lợi ích tiềm năng của ong hoang dã đối với sản lượng trung bình khoảng 6%.

 

“Nghiên cứu này nhấn mạnh công việc bị đánh giá thấp mà ong hoang dã làm”, Nicholson nói, lưu ý rằng 2/3 cây trồng quan trọng nhất thế giới được hưởng lợi từ sự thụ phấn của ong, bao gồm cà phê, ca cao và nhiều loại trái cây và rau quả. "Nếu không có chúng, nông dân cần phải tìm sự thụ phấn ở một nơi khác, chẳng hạn như bằng cách trả phí thuê cao để đưa ong mật tới thụ phấn".

 

Những phát hiện này đưa ra một quan điểm quy mô trang trại cho các ước tính toàn cầu về lợi ích kinh tế của những con ong hoang dã lên tới hàng tỉ USD mỗi năm - gần như bằng với mật ong, với chi phí ít hơn nhiều.

 

Bởi vì ong rất ít khi ghé thăm những quả việt quất Vermont so với ở các vùng trồng việt quất khác, Green Mountain State là một địa điểm hoàn hảo để cô lập giá trị của những con ong hoang dã cho những người nông dân trồng quả mọng, các nhà nghiên cứu nói.

 

“Nghiên cứu thụ phấn nhiều nhất xảy ra ở các khu vực tràn ngập ong mật”, đồng tác giả Taylor Ricketts, Giám đốc Viện Môi trường Gund của UVM cho biết. "Điều đó gây khó khăn để thực sự nhìn thấy công việc mà ong hoang dã có thể làm cho nông dân".

 

Nhóm nghiên cứu chăm sóc cây việt quất tự thụ phấn ở tất cả chín địa điểm nghiên cứu - sử dụng bàn chải đánh răng điện để bắt chước sự thụ phấn của ong nghệ, sau đó thoa phấn hoa thu thập được lên trên 5.000 quả việt quất bằng bàn chải nhỏ. Họ so sánh sự sản xuất trên những bông hoa này, được thụ phấn gần như hoàn hảo, với các nhánh được thụ phấn tự nhiên. Sự khác biệt giữa hai điều kiện cho thấy "thâm hụt thụ phấn" của mỗi trang trại, số lượng mà sản lượng có thể được cải thiện với sự gia tăng các loài thụ phấn tự nhiên.

 

Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của những con ong hoang dã đối với nông nghiệp toàn cầu, nhưng nghiên cứu đầu tiên về việc lập bản đồ những con ong hoang dã trên khắp nước Mỹ - bởi Ricketts và cộng sự - cho thấy những con ong hoang dã giảm 23% từ giai đoạn 2008 - 2013, đặc biệt là ở các vùng nông nghiệp chính của Hoa Kỳ. Một nghiên cứu khác của Ricketts gần đây đã phát hiện ra rằng biến đổi khí hậu có thể làm giảm các khu vực có sẵn cho sản xuất cà phê tới 88% ở châu Mỹ Latinh, cũng như số lượng ong có sẵn để thụ phấn cà phê.

 

Một lý do khác để bảo vệ các loài thụ phấn tự nhiên - đối với những người yêu thích quả mọng, ít nhất - là những con ong hoang dã , đặc biệt là ong nghệ , tốt hơn trong việc thụ phấn quả việt quất hơn ong mật. Ong nghệ đã phát triển khả năng "thụ phấn ồn ào", làm rung hoa việt quất ở một tần số cụ thể để phát hành hiệu quả vòi thụ phấn. Trong khi đó, ong mật không thể làm điều này, và thay vào đó phải sử dụng các kỹ thuật ít hiệu quả hơn để thu phấn  từ hoa.

 

Nông dân và nhà hoạch định chính sách có thể làm gì để bảo vệ những con ong hoang dã? Nhóm nghiên cứu UVM đã phát hiện ra rằng việc duy trì một tỷ lệ lớn môi trường sống ong tự nhiên xung quanh các trang trại có thể hỗ trợ, cũng như phun thuốc trừ sâu ít hơn. Những hành động nhỏ của nông dân cũng có thể giúp ích, chẳng hạn như cắt hoa ít đi, trồng hoa dại bản địa, và đặt những cái hộp cho ong bản địa hoang dã cư trú, giống như tổ chim.

 

"Nghiên cứu này một lần nữa cho thấy việc bảo vệ quần thể ong hoang dã mang lại lợi ích quan trọng cho nền kinh tế nông nghiệp của chúng ta", Ricketts nói thêm. "Duy trì hệ sinh thái lành mạnh có thể quan trọng như cung cấp phân bón hoặc nước".

 

Nghiên cứu được công bố trong Tạp chí Nông nghiệp, Hệ sinh thái và Môi trường.

 

H.T -  MArd, theo Newfoodmagazine.

Trở lại      In      Số lần xem: 210

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD