Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Lúa hữu cơ trong hệ thống canh tác lúa tôm

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  29
 Số lượt truy cập :  16303729
Phân tích di truyền trên cơ sở kết quả gbs, tập đoàn giống lúa châu phi, và kết quả ‘association mapping” các gen kháng bệnh đạo ôn do nấm Magnaporthe oryzae
Thứ ba, 01-08-2017 | 07:43:02

Nguồn: Mgonja EM, Park CH, Kang H, Balimponya EG, Opiyo S, Bellizzi M, Mutiga SK, Rotich F, Ganeshan VD, Mabagala R, Sneller C, Correll J, Zhou B, Talbot NJ, Mitchell TK, Wang GL. 2017. Genotyping-by-Sequencing-Based Genetic Analysis of African Rice Cultivars and Association Mapping of Blast Resistance Genes Against Magnaporthe oryzae Populations in Africa. Phytopathology. 2017 Jul 18 [Epub ahead of print]

TÓM TẮT

Hiểu biết đa dạng di truyền bộ giống lúa bản địa vô cùng quan trọng giúp chúng ta sử dụng một cách bền vững các vật liệu di truyền phục vụ lai tạo giống lúa và sản xuất lúa gạo. Châu Phi có tập đoàn giống lúa bản địa vô cùng đa dạng về di truyền. Chúng có thể được sử dụng để cải tiến năng suất lúa của thế giới. Một trở ngại rất lớn cho sản xuất lúa là bệnh đạo ôn ở châu Phi, gây ra do vi nấm Magnaporthe oryzae. Theo kết quả nghiên cứu này, người ta đã dựa vào kết quả phân tích “đánh giá kiểu gen bằng giải trình tự” viết tắt là GBS (genotyping-by-sequencing) đối với 190 giống lúa trồng của  châu Phi. Bên cạnh đó, người ta bổ sung kết quả phân tích “association mapping” các gen kháng bệnh đạo ôn (gen R), cũng như kết quả phân tích QTLs. Các giống lúa này được chia thành ba nhóm di truyền chính, trên cơ sở bộ chỉ thị SNP đa hình, có qui mô 184 K được vận hành bởi GBS. Người ta tiến hành chủng sáu mẫu phân lập (isolates) vi nấm M. oryzae có nguồn gốc châu Phi lên tất cả những giống lúa nói trên. Kết quả “association mapping” đã xác định có 25 vùng thuộc bộ genome cây lúa liên quan đến tính kháng bệnh đạo ôn (RABRs: regional association of blast resistance). Hơn nữa, kết quả phân tích PCR cho thấy vùng RABR_23 liên quan đến gen Pi-ta trên nhiễm sắc thể 12. Kết quả này chứng minh rằng  sự kết hợp giữa phân tích quần thể có mức độ đa dạng di truyền lớn bằng GBS và “association mapping” là rất hiệu quả để xác định các gen R của bệnh đạo ôn / hoặc QTLs điều khiển tính kháng đạo ôn đối với quần thể vi nấm M. oryzae của châu Phi. Những chỉ thị được xác định liên kết với các RABRs. Có 14 giống kháng cao trong nghiên cứu này. Chúng sẽ được sử dụng trong chọn tạo giống lúa của châu Phi.

GS. Bùi Chí Bửu lược dịch.

 

Xem https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/28719243

Hình 3: Hiển thị trên “Mahattan plot” tóm lược kết quả GWAS (genome wide association study) đối với 6 mẫu phân lập nấm gây bệnh đạo ôn. Trục X là vị trí trên bộ genome của từng chỉ thị SNP, trục Y là giá trị logarithm âm của xác suất P ghi nhận bởi GWAS. Những chỉ thị SNP kết hợp chặt chẽ với tính kháng bệnh có giá trị tương ứng trên trục Y rất cao. Mũi tên hiển thị các vùng có liên kết với tính kháng bệnh đạo ôn, cùng năm vị trí của bản đồ di truyền trước đây hoặc các vùng có gen R đã được dòng hóa.

Trở lại      In      Số lần xem: 67

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD