Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Nông nghiệp 4.0 – Cơ hội cho nông nghiệp Việt Nam

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  21
 Số lượt truy cập :  19013421
Phát triển chỉ thị ssr và xác định qtl chủ lực điều khiển tính trạng tỷ lệ hạt / quả trong giống đậu phụng (Arachis hypogea L.)
Thứ sáu, 04-08-2017 | 07:52:57

Nguồn: Huaiyong Luo,  Zhijun Xu,  Zhendong Li,  Xinping Li,  Jianwei Lv, Xiaoping Ren,  Li Huang,  Xiaojing Zhou,  Yuning Chen,  Jingyin Yu, Weigang Chen,  Yong Lei;  Boshou Liao,  Huifang Jiang. 2017.  Development of SSR markers and identification of major quantitative trait loci controlling shelling percentage in cultivated peanut (Arachis hypogaea L.). Theoretical and Applied Genetics; August 2017, Volume 130, Issue 8, pp 1635–1648

THÔNG TIN CHÍNH

Người ta đã phát triển 204.439 chỉ thị phân tử SSR trong bộ gen lưỡng bội, và 25 QTLs được xác định điều khiển tính trạng “shelling percentage” (tỷ lệ quả đậu phọng có đầy hạt) trong quần thể cận giao tái tổ hợp (RIL) trong vòng 4 năm, với 4 QTLs chắc chắn.

TÓM TẮT

Giống đậu phọng trồng trọt (Arachis hypogea L.) là loài cây họ đậu cho protein và dầu ăn được rất có giá trị dinh dưỡng cho loài người. Các chuỗi trình tự của bộ genome thuộc tổ tiên lưỡng bội, đó là hai loài Arachis duranensisA. ipaensis, được người ta báo cáo trước đây, nhưng các chỉ thị phân tử SSRs của chúng vẫn chưa được khai thác hoàn toàn, cũng như chưa được sử dụng cho đến nay. Tỷ lệ hạt / quả đậu phọng là tính trạng quan trọng về mặt kinh tế. Việc cải tiến tính trạng này là một trong những mục tiêu chủ yếu trong chọn tạo giống đậu phọng. Theo kết quả nghiên cứu, các chuỗi trình tự của bộ genome cây A. duranensisA. ipaensis đã được sử dụng để phát triển các chỉ thị phân tử SSR, và hình thành một quần thể lập bản đồ (mapping population) (giống Yuanza 9102 × giống Xuzhou 68-4), với 195 dòng RILs được người ta khai thác xây dựng nên bản đồ di truyền QTLs điều khiển tính trạng “shelling percentage”. Con số chỉ thị phân tử SSR mới là 84.383 trong loài A. duranensis và 120.056 trong loài A. ipaensis. Đánh giá kiểu gen quần thể mapping này được tiến hành với cả bộ chỉ thị cũ và mới. Phân tích QTL trên cơ sở số liệu đánh giá kiểu hình tại Vũ Hán suốt bốn năm liên tục và những dữ liệu đánh giá kiểu gen tại 830 loci đã được xem xét trên bản đồ di truyền, người ta xác định được 25 QTLs giải thích được 4,46–17,01% biến thiên kiểu hình trên 4 địa điểm thí nghiệm khác nhau. Kết quả “Meta-analysis” cho thấy có 5 QTL chắc chắn tại ít nhất hai địa điểm khác nhau. Theo đó, QTL chắc chắn là cqSPA09 được tìm thấy tại 4 địa điểm, giải thích được 10.47–17.01% biến thiên kiểu hình. Phân ly của con lai của dòng dị hợp tử khẳng định là tại locus cpSPA09 có ảnh hưởng tín cộng (dditive effect) khi tính trạng “shelling percentage” gia tăng giá trị. Những  vùng QTL chủ lực như vậy cung cấp cho chúng ta cơ hội không những chỉ tìm thấy gen chính xác hơn mà còn phát triển được các markers có chức năng rõ ràng phục vụ lai tạo5 giống mới.

GS Bùi Chí Bửu lược dịch

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-017-2915-3

 

Hình 2: Bản đồ di truyền QTL từ quần thể RIL của tổ hợp lai giữa giống Yuanza 9102 và giống Xuzhou 68-4

Trở lại      In      Số lần xem: 225

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD