Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Triển vọng giống đậu nành HLĐN910 trên đất trồng tiêu

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  10
 Số lượt truy cập :  21820708
Phòng chống côn trùng gây hại bằng vi sinh vật phân giải gelatin và chitin
Thứ năm, 19-09-2019 | 08:31:03
Đây là công nghệ sinh học vừa giúp phòng chống các loại côn trùng có hại và các loại nấm mốc gây bệnh, vừa thúc đẩy quá trình sinh dưỡng của cây trồng.
 
Gelatin và chitin trong nấm mốc, côn trùng gây hại 
 
Là polypeptide có khối lượng phân tử lớn, có nguồn gốc từ collagen, gelatin là thành phần protein chính của tế bào động vật, có trong xương, da và nội tạng. Tuy không vị, không mùi, trong suốt hoặc có màu hơi vàng, nhưng với khả năng kết dính và ổn định hình dạng, trong đời sống, gelatin được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau như công nghệ thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, sơn, chất dán... Với mức nhiệt độ tan chảy dưới 37 độ C, gelatin dễ dàng hòa tan và tan được cả trong miệng nên khi sử dụng gelatin làm phụ gia thực phẩm, dược phẩm. Trong y dược, ứng dụng tiêu biểu của gelatin là làm là viên bao nang.
 

 

Chitin (C8H13O5N) là một polymer chuỗi dài của một N-Acetylglucosamine - một dẫn xuất của glucose, có mặt nhiều trong tự nhiên. Chitin là một thành phần đặc trưng của các thành tế bào của nấm, các khung xương của động vật chân đốt như động vật giáp xác (ví dụ cua, tôm hùm và tôm) và côn trùng, các mỏ và vỏ bên trong của động vật thân mềm. Chitin cấu tạo nên bộ xương ngoài của một số động vật như tôm, cua và nhiều loại côn trùng, giúp cho thành tế bào protein cứng và không thấm nước.

 

 
Cả gelatin và chitin đều có mặt nhiều trong ấu trùng có hại, nên MC Biotech đã nghiên cứu theo hướng sử dụng vi sinh vật có tác dụng phân giải gelatin/chitin để phòng chống các loại côn trùng có hại và các loại nấm mốc gây bệnh. Đây là phương thức ứng dụng công nghệ sinh học, thân thiện với môi trường.

 

Dùng vi sinh vật phân giải gelatin và chitin
 
Để giải quyết vấn đề, MC Biotech chọn các giống vi sinh vật sử dụng gelatin/chitin làm thức ăn, qua đó phân giải gelatin/chitin ở nấm mốc và côn trùng gây hại. Mặt khác, trong khâu nuôi dưỡng vi sinh vật phân giải gelatin/chitin, xảy ra rất nhiều quá trình trao đổi chất và chuyển hóa, tạo ra các loại hoocmon tự nhiên (Auxin, Gibberellin) có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cây trồng và các chất kháng thể tự nhiên cản trở sự phát triển của vi khuẩn có hại.
 
Mặt khác, đối với các loại phân bón hoặc các chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng – trong quá trình nuôi dưỡng vi sinh vật, lấy nó làm thức ăn cho vi sinh thì sẽ tạo thành phân bón hữu cơ, khi cung cấp cho cây trồng nó sẽ tạo sự cân bằng không gây ảnh hưởng đến rễ, giúp đạt được mức thu hoạch tốt nhất cho cây trồng. Do đó, vi sinh vật phân giải gelatin/chitin vừa có khả năng đề kháng các bệnh do côn trùng có hại gây nên, vừa thúc đẩy quá trình sinh dưỡng của cây trồng nhờ những enzym có lợi phát sinh từ quá trình trao đổi chất, có tác dụng giảm độ mặn cho đất và cải tạo đất.
 
Tùy theo từng thời kỳ sinh trưởng của cây trồng, nồng độ vi sinh sẽ được pha loãng khác nhau, chẳng hạn như ở giai đoạn trước khi gieo mầm từ 7-10 ngày, phun vào đất lượng vi sinh nguyên chất để phòng sâu và côn trùng, đồng thời cũng tạo được lớp phân nền. Tiếp đó, ở giai đoạn gieo mầm thì pha loãng tầm 15-20 lần với nước, sau đó dần dần tăng nồng độ. Phương pháp này yêu cầu tuyệt đối tuân thủ tỉ lệ pha loãng để đạt hiệu quả tốt, và tùy theo trạng thái của cây, nhiệt độ, khí hậu môi trường mà có sự điều chỉnh nồng độ sử dụng.
 
Kim Hoàn - Techport.
Trở lại      In      Số lần xem: 416

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD