Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cây cà phê Việt Nam

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  36
 Số lượt truy cập :  17018683
Phương pháp mới giúp giảm tỷ lệ tử vong ở lợn con
Thứ sáu, 12-10-2012 | 16:16:07

Để giúp tăng tỉ lệ sống cho lợn con sơ sinh, các nhà khoa học tại Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đã phát triển một phương pháp mới dự đoán tỷ lệ tử vong của vật nuôi.

 

Jeffrey Vallet - nhà sinh lý học và các cộng sự của ông tại Trung tâm Nghiên cứu Thịt động vật Roman L. Hruska của Mỹ (USMARC), trực thuộc Cơ quan Nghiên cứu Nông nghiệp (ARS) ở Clay Center, Neb, gọi kỹ thuật đo này là "immunocrit" – kỹ thuật xác định xem liệu lợn con trước khi cai sữa có nhận được đủ sữa non từ lợn mẹ hay không.

Tử vong của lợn con trước khi cai sữa gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi của Mỹ ước tính 1,6 tỷ USD mỗi năm, và một trong những yếu tố góp phần vào tỉ lệ tử vong của lợn con là do lợn con được nhận lượng sữa non không đủ. Sữa non được tạo ra bởi một lợn nái sau khi sinh có chứa các globulin miễn dịch, hoặc các kháng thể, giúp tạo dựng khả năng miễn dịch chống lại vi khuẩn, virus và các yếu tố bên ngoài khác. Lợn con không được chăm sóc và nhận đủ sữa non từ mẹ chúng trong vòng 24 giờ đầu tiên sau khi sinh thường bị chết.

Kỹ thuật immunocrit đo lại globulin miễn dịch huyết thanh của lợn con sơ sinh trong các mẫu máu. Theo Vallet – người đứng đầu nhóm nghiên cứu USMARC, những phép đo này cho biết tỷ lệ tử vong của lợn con và khả năng điều dưỡng. Kết quả đo được nhờ kỹ thuật immunocrit cũng cho thấy các thông số trung bình của lợn con trong một lứa phản ánh khả năng sản xuất sữa non của lợn nái.

Ngoài ra, các nhà khoa học đã tìm thấy một mối liên hệ giữa các phép đo immunocrit, trọng lượng lợn con và tỷ lệ tử vong. Những con lợn có trọng lượng nặng hơn có nhiều khả năng sống sót hơn trong điều kiện không nhận được sữa non trong khoảng thời gian quan trọng này, trái ngược với những con lợn có trọng lượng nhẹ hơn.

Vallet cho biết, do các kết quả của thử nghiệm đạt được một cách nhanh chóng như vậy, nó có thể xác định được những con lợn con bị tổn thương trong khi chúng vẫn còn sống. Kỹ thuật immunocrit nhận diện những con lợn con trong một lứa không ăn hoặc có cơ hội được chăm sóc. Điều này tạo cơ hội sinh tồn cho những con lợn con đang có nguy cơ tử vong bằng cách sử dụng các chiến lược can thiệp.

Kỹ thuật mới này cũng đã được nghiên cứu với gia súc, có thể được các nhà sản xuất, chăn nuôi lợn sử dụng để kiểm tra hoạt động quản lý chẳng hạn như chia bú. Phương pháp chia cho bú được thiết kế để cải thiện lượng sữa non cho lợn con sinh ra cuối cùng bằng cách cho chúng tiếp cận hạn chế với lợn nái. Sử dụng kỹ thuật immunocrit, các mẫu máu có thể được lấy trong vòng 24 giờ sau các quy trình chia bú để xác định xem liệu lượng tiêu thụ sữa non ở những con lợn con này đã tăng lên hay chưa.

Nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí Nghiên cứu Nông nghiệp số ra tháng 10/2012.
 
L.H. - Mard (Theo ARS)

 

Trở lại      In      Số lần xem: 1071

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD