Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Lúa hữu cơ trong hệ thống canh tác lúa tôm

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  13
 Số lượt truy cập :  16098851
Sản xuất nhiên liệu sinh học từ vi tảo
Thứ sáu, 10-03-2017 | 08:19:14

Các nhà khoa học thuộc Viện Công nghệ Tokyo đã xác định được các acyltransferases axit lysophosphatidic độc đáo như là các enzym chủ chốt để tổng hợp nên triacylglycerol từ tảo Nannochloropsis chứa dầu, nhờ đó đã phát hiện ra cơ chế sản xuất nhiên liệu sinh học từ vi tảo.

 


Trong xã hội hiện đại, sản xuất năng lượng phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nhiên liệu hóa thạch, dẫn đến ô nhiễm môi trường và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên không tái tạo. Các sinh vật quang hợp như thực vật và tảo xanh có thể biến đổi CO2 trong khí quyển thành các phân tử lưu trữ cacbon, đặc biệt là các loại dầu như triacylglycerol (TAG), có thể được sử dụng như nhiên liệu sinh học. Trong bối cảnh này, tảo có lợi thế cung cấp hàm lượng dầu cao và tăng trưởng trong các môi trường khắc nghiệt, bao gồm độ mặn, nhiệt độ, hoặc độ pH cao.

Nannochloropsis là một chi của vi tảo có thể tích lũy TAG lên đến 50% trọng lượng khô; tuy nhiên, các cơ chế về đặc điểm chứa dầu của chúng vẫn đang là một bí ẩn.

Các nhà khoa học thuộc Viện Công nghệ Tokyo do Giáo sư Hiroyuki Ohta dẫn đầu đã giải quyết vấn đề này bằng cách nghiên cứu sự chuyển hóa lipid ở Nannochloropsis oceanica. TAG được tổng hợp trong quá trình extraplastidic Kennedy thông qua quá trình bổ sung theo tuần tự ba nhóm chức gốc acyl béo thành khung glycerol. Trong số các enzym tham gia, các nhà khoa học tập trung vào bốn acyltransferases axit lysophosphatidic (LPAT 1-4) chịu trách nhiệm bổ sung các axit béo ở vị trí 2.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng, về khía cạnh phát sinh loài, LPAT1 và LPAT2 thuộc các phân họ khác nhau, trong khi LPAT3 và LPAT4 có mối quan hệ tiến hóa gần gũi. Theo đó, các enzym này xuất hiện để có các hoạt động chức năng riêng biệt như được thể hiện bằng cách sử dụng các chủng đột biến của N. oceanica bị thiếu một hoặc hai trong số bốn LPAT này. LPAT1 được nhận thấy chủ yếu là tham gia vào quá trình tổng hợp lipid của màng, trong khi LPAT4 chịu trách nhiệm về sinh tổng hợp TAG, và LPAT2 và LPAT3 tham gia vào cả hai quá trình.

Các LPAT được dán nhãn huỳnh quang và vị trí của chúng trong tế bào được quan sát bằng kính hiển vi đồng tiêu. Trong khi LPAT1 và LPAT2 thể hiện kiểu định vị ER điển hình, thì LPAT3 và LPAT4 được nhận thấy ở vòng ngoài của các giọt lipid (LD), mà có thể do sự hiện diện của các phần kỵ nước dài (30-40 đơn phân) trong cấu trúc của chúng, cho phép neo giữ vào bề mặt LD.

Dựa trên kết quả này, các nhà khoa học cho rằng, trong sự quá trình tạo thành LD, LPAT2 chủ yếu tham gia vào quá trình tổng hợp TAG ban đầu trong ER, LPAT3 và LPAT4 định vị trên bề mặt LD ở ngoại vi và đóng góp vào quá trình phát triển hơn nữa của LD. Nghiên cứu của giáo sư Ohta và các đồng nghiệp là bằng chứng trực tiếp về đặc tính chứa dầu của Nannochloropsis được hỗ trợ bởi các LPAT ở vòng ngoài của LD.

 

N.M.P - NASATI, theo Phys.org

Trở lại      In      Số lần xem: 586

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD