Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cây cà phê Việt Nam

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  23
 Số lượt truy cập :  17451602
Thực hiện “fine mapping” gen kháng bệnh thối rễ đậu nành Rpswy do nấm phytophthora, thông qua giải trình tự bộ gen qui mô rộng (wide genome sequencing)
Thứ tư, 10-05-2017 | 08:12:37

Nguồn: Yanbo Cheng, Qibin Ma, Hailong Ren, Qiuju Xia, Enliang Song, Zhiyuan Tan, Shuxian Li, Gengyun Zhang, and Hai Nian. 2017. Fine mapping of a Phytophthora-resistance gene RpsWY in soybean (Glycine max L.) by high-throughput genome-wide sequencing. Theoretical and Applied Genetics; May 2017, Volume 130, Issue 5, pp 1041–1051

TÓM TẮT

Thông tin chính

Sử dụng một phối hợp bao gồm đánh giá kiểu hình nhờ thanh lọc bệnh, phân tích di truyền và thống kê sinh học, và phân tích GWAS (high-throughput genome-wide sequencing), nhóm tác giả nghiên cứu đã lập bản đồ di truyền dạng “fine map” một gen kháng trội với bệnh thối rễ do nấm Phytophthora từ giống đậu nành Wayao.

TÓM TẮT

BNH PRR (viết tt t ch Phytophthora root rot) hay bệnh thối rễ do nấm Phytophthora sojae gây ra, là một trong những bệnh lan truyền từ đất quan trọng nhất trên nhiều vùng sản xuất đậu nành của thế giới. Xác định gen kháng bệnh rồi chuyển nó vào  giống đậu nành cao sản là cách thức mà các nhà chọn giống thường làm mang lại hiệu quả tốt nhất để ngăn ngừa cây đậu nành không bị nhiễm bệnh thối rễ. Hai quần thể con lai: quần thể F­2 với 191 cá thể và quần thể F7:8 với 196 dòng RIL (recombinant inbred lines) được phát triển để hình thành bản đồ gen Rps thông qua cặp lai giữa giống nhiễm bệnh Huachun 2 với giống kháng bệnh Wayao. Phân tích di truyền quần thể F2 cho thấy tính kháng bệnh PRR của giống Wayao được kiểm soát bởi một gen đơn, có tính trội, tạm thời được đặt tên là RpsWY, định vị trên nhiễm sắc thể số 3. Bản đồ liên kết di truyền phân giải cao (high-density) được hình thành thông qua 3469 “recombination bins” của quần thể con lai cận giao tái tổ hợp (RILs) nhằm khai thác những gen ứng cử viên thông qua kỹ thuật “high-throughput genome-wide sequencing” (giải trình tự genome trên qui mô rộng). Kết quả phân tích kiểu gen cho thấy gen RpsWY được định vị trong vùng “bin 401” giữa quãng có độ lớn nucleotide số 4466230 đến số 4502773 bp trên nhiễm sắc thể 3 thông qua dòng số 71 và dòng số 100 của quần thể RILs. Bốn gen được dự đoán (Glyma03g04350, Glyma03g04360, Glyma03g04370,Glyma03g04380) đã được người ta xác định trong một vùng rất hẹp có độ lớn 36.5 kb tại “bin 401”. Kết quả cho thấy rằng kỹ thuật “high-throughput genome-wide resequencing” là phương pháp có hiệu quả cao để thực hiện “fine map” các gen ứng cử viên kháng bệnh thối rễ đậu nành.

 

Xem http://link.springer.com/article/10.1007/s00122-017-2869-5

GS. Bùi Chí Bửu lược dịch.

 

Hình 1: Bản đồ di truyền gen RpsWY trên nhiễm sắc thể số 3. Tổng số chỉ thị phân tử SSR đa hình là 210 markers thuộc Soybase. Bản đồ di truyền được hình thành thông qua 191 dòng F2 và 196 dòng RILs (F7-8) của tổ hợp lai Huachun 2 x Wayoo, phân tích đa điểm của Mapmarker 3.0. Nhóm liên kết được tính theo LOD 12.64. Chr3-N: được viết tắt từ chữ chromosome 3 của MLG N.

Trở lại      In      Số lần xem: 825

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD