|
Tuần tin khoa học 260(9-15/01/2012)
Thứ sáu, 06-01-2012 | 16:05:40
|
|
Gen kháng phổ rộng đối với vi nấm gây bệnh héo rủ khoai tây Bệnh héo rủ (late blight) là một trong những bệnh quan trọng trong nghề trồng khoai tây do nấm Phytophthora infestans gây ra. Những nghiên cứu trước đây đã tìm thấy loài khoai tây hoang dại Mexico có tên khoa học là Solanum demissum là loài cung cấp nguồn gen kháng bệnh này. Nhà khoa học Hyoun-Joung Kim và ctv. thuộc ĐH Wageningen và Trung Tâm Nghiên Cứu của Hà Lan đã thực hiện một nghiên cứu để biết thêm về các gen kháng R8 và R9. Chúng biểu thị tính kháng phổ rộng trong cả hai điều kiện ngoài đồng và phòng thí nghiệm. Họ thực hiện lai dòng Mastenbroek (Ma) chứa gen kháng R8 và R9 với cây nhiễm bệnh và xử lý bố mẹ, con lai trong điều kiện cho lây nhiễm với từng nòi vi nấm có độc tính khác nhau, xét nghiệm mẫu lá và sử dụng các chỉ thị phân tử có liên kết với gen kháng. Bốn gen kháng được phát hiện trong MaR8 trong khi đó có bảy gen được phát hiện trong MaR9. Các gen kháng này kết chặt nhau lại (stacking) làm chậm trễ sự phát triển bệnh héo rủ. Người ta thấy rằng chỉ có gen R8 có liên quan đến sự kiện “delay” (chậm trễ) như vậy giống như cây có chứa đa gen kháng. Các nhà khoa học kết luận rằng phương pháp "de-stacking" (làm rả cụm gen này ra) tỏ ra hữu hiệu làm phát sinh những kết hợp tính kháng của gen có thể là nội dung nghiên cứu lý thú trong tương lai nhằm phát triển giống khoai tây kháng bệnh héo rủ bền vững. Xem tóm tắt http://www.springerlink.com/content/52x881847733m058/. Xét nghiệm hạt phấn giống ngô Bt trên ấu trùng của ong mật. Ong mật (Apis melifera) là sinh vật được xem xét như “non-target organism” (sinh vật không phải đối tượng của gen Bt) rất quan trọng để đánh giá rủi ro môi trường (ERA: environmental risk assessment) của cây trồng biến đổi gen bởi vì vai trò của côn trùng arthropod này trong thụ phấn. Ấu trùng của ong mật được thả trong hạt phấn ngô Bt cho chúng ăn tự nhiên. Các thí nghiệm trước đây đều được thể hiện trên thành trùng, đây là lần đầu tiên người ta thí nghiệm trên ấu trùng. Harmen Hendriksma va2 ctv. thuộc ĐH Wurzburg đã đánh giá các ảnh hưởng gây chết và dưới ngưỡng gây chết (lethal and sub-lethal effects) của việc tiêu dùng hạt phấn Bt của ong mật theo xét nghiệm sinh học tiêu chuẩn có tính chất “eco-toxicological”. Họ phân tích ảnh hưởng hạt phấn có chứa protein Bt dưới dạng đơn hoặc kết hợp đến tỷ lệ sống sót và khối lượng của ấu trùng. Họ cho ấu trùng ăn với khẩu phần là bán nhân tạo chứa 2 mg hạt phấn. Họ quan sát ấu trùng trong 120 giờ liền cho đến khi chúng biến thái sang giai đoạn “tiền nhộng” (prepupal stage) lúc ấy ấu trùng chấm dứt ăn và tăng trưởng. Không khác biệt có ý nghĩa về mức độ sống sót và khối lượng cơ thể của ấu trùng khi cho ăn hạt phấn Bt và hạt phấn đối chứng. Điều này cho thấy giống ngô biến đổi gen Bt gây gây bất cứ ảnh hưởng có hại nào cho ong mật. Xem chi tiết http://www.plosone.org/article/info%3Adoi%2F10.1371%2Fjournal.pone.0028174 Hợp chất có trong đậu nành làm tăng hiệu quả chữa trị ung thư bằng phóng xạ Isoflavones, một hợp chất thiên nhiên, không độc của đậu nành được tìm thấy như một hợp chất giúp chúng ta chữa trị bệnh ung thư cho người. các nghiên cứu đầu tiên này được thực hiện bởi nhóm khoa học gia mà dẫn đầu là Gilda Hillman thuộc ĐH Wayne State và Viện Ung Thư Barbara Ann Karmanos, công trình khoa học được công bố trên tạp chí Nutrition and Cancer năm 2010. Báo cáo ghi nhận trên nhiều bệnh nhân bị ung thư tuyến tiền liệt (prostate) đang chữa trị bằng phóng xạ (radiotherapy) và thuốc viên đậu nành (soy tablets) đã biệu hiện sự kiện giảm độc hại do xạ trị gây ra xung quanh các tế bào bình thường, mô không phải bị ung thư. Muốn nghiên cứu sâu hơn, nhóm nghiên cứu đã được tài trợ 347.000 USD từ Viện Ung Thư Quốc Gia, xem xét ảnh hưởng isoflavones trên tế bào ung thư phổi không phải nhỏ của chuột. Báo cáo khoa học này được công bố trên tạp chí Radiotherapy and Oncology cho thấy isoflavones có thể làm cho tế bào ung thư đở bị tổn thương nhiều hơn đối với xạ trị. Đây là sự kiện ức chế trong lộ trình sống sót mà nó bị kích hoạt bởi bức xạ trong tế bào ung thư mà không có trong tế bào bình thường. Một khi qui trình như vậy trong kiểm soát sự giết chết tế bào ung thư nhưng bảo vệ được mô bình thường trong xạ trị được phát triển cộng đồng, thầy thuốc sẽ có thể sử dụng thuốc “soy isoflavones” kết hợp với xạ trị cho người có hiệu quả cao về kỹ thuật và kinh tế. Xem chi tiết http://www.sciencenewsline.com/medicine/2011121914100003.html Thông báo
Hội nghị quốc tế lần thứ 16 của Hiệp Hội Quốc Tế Cây có củ nhiệt đới. Symposium quốc tế này sẽ được tổ chức tại Đại Học Nông Nghiệp Abeokuta (UNAAB), Ogun State, Nigeria vào ngày 23 – 28 tháng Chín 2012. Chủ đề của hội nghị năm nay là The Roots and Tubers of Development and Climate Change. Xem chi tiết thông báo tại http://www.iita.org/home;jsessionid=754C25F36887D072A6B916C1B671CE02
|
|
|
|
[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
|