Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Triển vọng giống đậu nành HLĐN910 trên đất trồng tiêu

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  13
 Số lượt truy cập :  22541898
Tuần tin khoa học 304 (26/11 - 02/12/2012)
Thứ sáu, 23-11-2012 | 16:34:21

Theo dấu vết giống bắp GM trong việc sản xuất bánh mì Broa

Broa là bánh mì rất phổ biến làm bằng bắp ở Bồ Đào Nha, có vai trò quan trọng về kinh tế và xã hội ở nhiều cộng đồng nông thôn của quốc gia này. Bột bắp, lõi hạt bắp (maize semolina) là thành phần chính để làm bánh mì broa, bên cạnh những mễ cốc khác như lúa mì và lúa mạch đen (rye). Telmo Fernandez và ctv. thuộc Universidade do Porto xem xét việc xử lý nhiệt trong qui trình làm bánh mì với nghiệm thức làm thoái hóa phân tử DNA (degradation), khuếch đại phân tử DNA, và chất lượng hóa sinh vật biến đổi gen (GMO) để xem xét dấu vết của GMO trong thực phẩm chế biến như bánh mì broa. Sự thoái hóa phân tử DNA được người ta quan sát sau khi nhào bột xong và tất cả các mẫu bánh mì khác. Thực hiện PCR phân tử DNA ly tríchtừ ba mẫu bột bắp khác nhau để làm bánh mì (broa 1, 2, và 3) cho thấy chuỗi trình tự của gen mã hóa enzyme invertase và đối với giống sự kiện MON810, TC1507; người ta rất dễ dàng theo dấu vết giống như những sản phẩm khác. Thực hiện real-time PCR cho thấy phẩm chất của GMO trong 3 mẫu bánh mì broa khác nhau này với cách lấy mẫu tại các điểm khác nhau và kết quả trung bình cho thấy chúng rất giống với giá trị của broa 1. Khi broa 2 và 3 được xử lý như nhau, hàm lượng có trong MON810 như trong dự đoán, điều này khẳng định xử lý nhiệt (heat-processing) không gây ra bất cứ xáo trộng nào. Họ đã kết luận rằng kích thước mẫu và qui trình sấy bắp nguyên liệu là những yếu tố quan trọng trong định phẩm GMO. Xem tóm tắt

 http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0308814612016159#.

 

Kích thích tố sinh trưởng thực vật ảnh hưởng đến sinh khối, nhiên liệu sinh học

Các nhà khoa học thuộc Đại Học Manchester vừa xác định được làm cách nào mà ethylene – một kích thích tố dạng hơi, có thể kiểm soát được mức độ hiện tượng phân bào trong mô mạch, thí dụ như gỗ, từ đó góp phần gia tăng sinh khối. Mô mạch (vascular tissue) là kết quả từ một nhóm của những tế bào được phân cắt theo kết cấu mà người ta gọi đó là procambium. Nhóm các nhà nghiên cứu này thảo luận về những cơ chế kiểm soát sự phân bào trong kiến trúc như vậy, chúng có thể làm cho chúng ta có khả năng khai thác thực vật làm gỗ và phát triển nhiên liệu sinh học. Họ sử dụng cây Arabidopsis làm mô hình, ethylene cho ra tín hiệu làm mở công tắc các gen thúc đẩy sự phân bào trong procambium. Tín hiệu của ethylene trái lại cũng tương tác với PXY, một gen mã hóa một thành phần đóng vai trò truyền tín hiệu trong kiểm soát sự phân bào của mô mạch. Bài đăng trên tạp chí PLOS Genetics, có tác dụng giúp chúng ta sản xuất tốt hơn gỗ và sản xuất nhiên liệu sinh học thông qua tháo ta1x trong quá trình phân bào. Xem chi tiết:

http://www.plosgenetics.org/article/info%3Adoi%2F10.1371%2Fjournal.pgen.1002997.

 

Trình tự genome của lợn giúp phát triển sản xuất thịt và sử dụng mô hình biomedical

Một nghiên cứu vừa được công bố trên tạp chí Nature (Nature 491: 393-398, November 15, 2012) cho rằng toàn bộ genome lợn nhà đã được giải trình tự  và xác định được những trình tự gen cũng như protein có mức độ tương đồng với gen của người đặc biệt là bệnh của người. Đây là kết quả hợp tác nghiên cứu có tính quốc tế rất rộng, trong nghiên cứu này, người ta xem như đây là bản dự thảo ban đầu về trình tự genome lợn. Nó có thể cho chúng ta một côn cụ tham khảo tốt để cải thiện ngành chăn nuôi lợn  và khai thác chuỗi giá trị thịt lợn như một mô hình thí nghiệm để xem xét bệnh trên người có đặc điểm mà sinh lý con lợn rất giống với người. Nhóm tác giả này đã kết luận rằng bản thảo trình tự genome như vậy là nguồn tư liệu quí giá để khai thác tốt hơn cả về phương diện chăn nuôi và y học. Xem

http://www.nature.com/nature/journal/v491/n7424/full/nature11622.html.

 

 

QMUL nghiên cứu genome Birch Tree

Các nhà nghiên cứu thuộc Queen Mary, Đại Học London (QMUL) lần đầu tiên đã giải xong trình tự của genome birch tree. Trình tự này được các nhà khoa học kỳ vọng rằng họ đã góp một phần nào làm rõ cơ sở di truyền của tính kháng bệnh và dạng tháp tăng trưởng của birch tree (họ Betulaceae). Cây birch có giá trị kinh tế và môi sinh rất lớn. Chúng mọc ở khu rừng Boreal thuộc Cực Bắc, mà nơi ấy có hệ thống sinh môi xét theo đất đai là rộng lớn nhất thế giới. Các nhà nghiên cứu đã giải mã genome này trên cây birch dạng lùn thuộc vùng Scotland, một loài đã trở nên quí hiếm ở Anh nhưng còn phong phú ở nhiều vùng khác của Châu Âu. Theo Dr. Richard Buggs, tác giả chính của nghiên cứu này, giống “dwarf birch” là mô hình tốt nhất cho nghiên cứu genome cây birch bởi vì kích thước của nó khá nhỏ dễ trồng làm thí nghiệm. Xem chi tiết

http://www.eurekalert.org/pub_releases/2012-11/qmuo-rdb111912.phphttp://evolve.sbcs.qmul.ac.uk/buggs/.

 

Thông Báo

Hội nghị các nhà khoa học trẻ về khoa học có tính hợp nhất ( Integrated Science) và tương lai của lương thực

Hội nghị mạnh lưới các nhà khoa học trẻ (DFG/ICSU/ISSC) về Integrated Science và Tương Lai của Lương thực được tổ chức tại Villa Vigoni, Trung Tâm Văn Hóa và Trao Đổi Khoa Học của Đức-Ý, Lake Como, Italy, vào ngày 14-19 tháng Tư, 2013. Xem thông tin chi tiết http://www.faccejpi.com/FACCE-JPI-Home/FACCE-JPI-News/Call-for-Applications-DFG-ICSU-ISSC-Young-Scientists-Networking-Conference-Food-Futures.

 

Trở lại      In      Số lần xem: 1228

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD