Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Triển vọng giống đậu nành HLĐN910 trên đất trồng tiêu

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  4
 Số lượt truy cập :  22143969
Tuần tin khoa học 325 (22 - 28/04/2013)
Thứ hai, 22-04-2013 | 08:04:00

Markers đánh dấu gen đặc biệt liên quan đến tính chống chịu độ độc nhôm trên đất acid đối với lúa mạch

 

Một trong những vấn đề lớn trong sản xuất lúa mạch trên đất phèn là tính chống chịu với độ độc nhôm. Khi pH đất giảm xuống (dưới 5,5), aluminium trở nên dễ hóa tan và gây độc đối với cây trồng, tạo ra sự kiện hấp thu dưỡng chất kém và hút nước kém. Các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp cải biên di truyền (genetic modification) và chọn giống nhờ chỉ thị phân tử (molecular marker-assisted selection) để phát triển giống lúa mạch có tính chống chịu độc nhôm trên đất acid. Dr. Miao Ban và ctv. thuộc ĐH Nông Nghiệp Huazhong  đã lập bản đồ gen một tính trạng chủ lực liên quan đến chống chịu đất acid từ giống lúa mạch của CIMMYT tên là Svanhals. Họ đã phát triển được một chỉ thị phân tử (PCR-based gene-specific marker) phục vụ chọn giống nhờ marker. Nhóm nghiên cứu này đã sử dụng kỹ thuật mã hóa gen (gene encoding) đóng vai trò transporter của “aluminium-activated citrate” ký hiệu là HvMate để phát triển những chỉ thị phân tử dùng trong PCR nhằm phát hiện ra gen điểu khiển tính chống chịu độc nhôm trên đất acid trên cơ sở PCR. Thông qua phân tích chuỗi trình tự gen này, phân tử indel có kích thước 21 (insertion–deletion) giữa giống kháng và giống nhiễm đã được xác định. Thêm vào đó, chỉ thị mới cũng được định vị trên bản đồ QTL (QTL), trên vùng của nhiễm sắc thể 4H có liên quan đến tính chống chịu đất acid, với 66,9% biến thiên kiểu hình được giải thích bởi QTL này in một quần thể đơn bội kép (DH). Mức độ đa hình (polymorphism) được xác nhận trong những giống chống chịu khác. Những giống ấy trở thành nguồn cho gen chống chịu được đất acid ở Australian, trong các chương trình cải tiến giống lúa mạch. Theo nghiên cứu này, marker mới rất có hiệu quả và là một công cụ phân tử giản đơn để chọn lọc gen điều khiển tính chống chịu đất acid từ nhiều nguồn kháng khác nhau. Xem tóm tắt http://link.springer.com/article/10.1007/s11032-013-9859-3.

 

Tám giống dê biến đổi gen mới của Royan Institute

 

Tám giống dê transgenic mới vừa được ra đời tại “Royan Institute for Biotechnology Research”, Iran. Những kỹ thuật cloning phải cần đến trang thiết bị hiện đại, nhưng qui trình chi tiết rất đơn giản trong điều kiện một phòng thí nghiệm bình thường, Dr. Nasr Esfahani, nghiên cứu viên cao cấp của dự án nghiên cứu này, đã nói như vậy. Các nhà nghiên cứu của Royan Institute đã cố gắng cải tiến qui trình cloning rất nhiều. Điều quan trọng phải cải tiến là hiệu quả của qui trình cloning hiện nay đã tạo ra điều kiện tốt cho sản sinh ra những protein tái tổ hợp (recombinant proteins) và các cơ quan đối với yêu cầu “xenotransplantation”. Thuật ngữ xenotransplantation có nghĩa là cấy tế bào sống, mô sống hoặc cơ quan còn sống từ một loài này sang một loài khác. Sau khi tối ưu hóa được phương pháp cloning, người ta đã chuyển được 50 phôi tại Royan Institute, chín con mang thai đạt kết quả dương tính, đây là kết quả cao nhất từ trước tới nay, như là kỷ lục mới của thế giới. Dr. Esfahani tiếp tục nhận xét rằng: "Tháng Ba 2013, tám trong chín con dê mang thai cho ra tám động vật transgenic và tất cả chúng đều có sức khỏe tốt ". Royan Institute for Biotechnology Research đã và đang phát triển sáng kiến mới này rộng rãi. Qui trình bao gồm sản sinh ra động vật transgenic từ các cơ quan sống (vital organs) để cấy vào cơ thể người. Xem bài viết đầy đủ http://isna.ir/fa/news/92012307740.  Email: Naghmeh Abiri, Trung tâm Thông Tin CNSH của Iran nmabiri@gmail.com để hỏi thêm thông tin.

 

Sweet 17, phân tử transporter mới đối với đường trong cây trồng

 

SWEET 17, một protein “sugar transporter” của thực vật đã được tìm thấy bởi các nhà nghiên cứu Pháp thuộc INRA Versailles-Grignon. Protein này có chức năng vận chuyển fructose trong cây trồng. Khám phá này được phát hành trong táp chí Tháng Tư  “Current Biology”. Gen như vậy đã được tìm thấy thông qua phân tích phân tử đối với cây mô hình Arabidopsis thaliana có nguồn gốc từ Đức và Tajikistan; chúng được trồng trong điều kiện có hàm lượng N rất khác nhau. Gen mã hóa protein SWEET 17 là một thành phần của họ proteins có mặt trong nhiều loài sinh vật, kể cả người, vi sinh vật, thực vật. Một vài loài  có vai trò vô cùng quan trọng trong chu trình vận chuyển glucose hoặc sucrose ở màng tế bào. Công trình nghiên cứu này mở ra một sự vận dụng đầy triển vọng trong sự biến đổi thành phần của đường đối với các loài cây trồng dùng làm lương thực, thực phẩm  và chế phẩm công nghiệp. Xem tài liệu gốc bằng tiếng Pháp

http://presse.inra.fr/Ressources/Communiques-de-presse/SWEET17-nouveau-transporteur-de-sucre-chez-les-plantes.

 

THÔNG BÁO

3rd Hội Nghị Quốc Tế lần thứ Ba về Genomics của Tài Nguyên Di Truyền Thực Vật

GPGR3 (The 3rd International Symposium on Genomics of Plant Genetic Resources) được tổ chức vào ngày 16-19 tháng Tư 2013 tại International Convention Center, Jeju, Korea. Chủ đề của GPGR3 là "A gateway to the new era of global food security". Xem thông tin chi tiết http://www.gpgr3.org/ tiếp xúc Dr. Soo-Chul Park, Giám Đốc của Korea Biotechnology Information Center (KBIC), theo e-mail usdapark@korea.kr.

Trở lại      In      Số lần xem: 1409

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD