Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Nông nghiệp 4.0 – Cơ hội cho nông nghiệp Việt Nam

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  27
 Số lượt truy cập :  19621363
Tuần tin khoa học 594 (06-12/08/2018)
Thứ hai, 06-08-2018 | 08:12:06

Gen có liên quan đến hàm lượng dầu trong cây cọ dầu

 

Cây cọ dầu có sản lượng chiếm một phần ba sản lượng dầu thực vật trên toàn thế giới. Cây cọ dầu còn cho sản phẩm làm thức ăn, mỹ phẩm và dược phẩm. Một gen khác của hệ gen cây cọ dầu có liên quan đến hàm lượng dầu cao. Gen này đã được định tính nhờ công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về di truyền cây cọ dầu (oil palm). Thông qua phân tích “genome-wide association analysis”, di truyền huyết thống, và so sánh trình tự gen với cơ sở dữ liệu, các nhà khoa học đã tìm thấy gen EgGDSL liên kết với tính trạng hàm lượng dầu cao. Gen này được chuyển nạp vào cây Arabidopsis và thể hiện tốt trong cây này, làm tăng hàm lượng acid béo tổng số 9,5%. Gen EgGDSL còn được quan sát có mức thể hiện cao trong cây cọ dầu có hàm lượng dầu cao. Gen EgGDSL sẽ là gen rất giá trị trong chọn tạo giống cọ dầu và công nghệ di truyền cây cọ dầu. Xem tạp chí khoa học Nature.

 

Sự khác biệt về phẩm chất cà phê được giải thích bằng biểu hiện của gen có trong nhân cà phê trong thời gia hạt chín

 

Có khoảng 70% cà phê được tiêu thụ trên thế giớithuộc về nhân hạt cà phê ARABICA (Coffea arabica). Phẩm chất cà phê được xác định bởi thành phần có trong nhân cà phê, sự tích tụ các thành phần này trong nhân vô cùng quan trọng, quyết định phẩm chất cà phê, nhất là trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thông quaphương pháp giải trình tự RNA, các nhà khoa học Úc đã phân tích sự thể hiện gen có trong nhân cà phêtừ khi hạt còn xanh cho đến lúc hạt vàng, rồi đỏ khi chín hoàn toàn. Họ thấy rằng: sự tích tụ lipid và protein cần thiết xảy ra trong suốt thời kỳ hạt xanh. Hầu hết số phân tử transcript biểu hiện trong thời kỳ hạt có màu vàng. Pectin được tìm thấy phân giải trong quá trình hạt chín. Nghiên cứu này cho thấy nhiều thông tin giá trị về họ gen này với vai trò điều khiển di truyền các thành phần qui định phẩm chất hạt cà phê. Xem Nature

 

Đồng thể hiện gen  ApGSMT2gApDMT2g làm tăng tính chống chịu mặn trong cây bông vải

 

Mặn là yếu tố giới hạn chủ yếu trong sản xuất nông sản trên toàn thế giới. Glycine betaine (GB) là cơ chất bảo vệ sự điều tiết áp suất thẩm thấu (osmoprotectant), điều này giúp cây ngăn ngừa thiệt hại khi bị stress do ngoại cảnh. Nhóm nghiên cứu của Jiuling Song thuộc Shandong University, Trung Quốc, phát triển thành công giống bông vải chuyển gen ApGSMT2gApDMT2g thông qua vi khuẩn Agrobacterium. Sự biểu hiện của cả hai gen ApGSMT2gApDMT2g trong cây bông vải làm cho cây chống chịu mặn tốt hơn, cây có cường lực tăng trưởng tốt hơn, được xác định bởi hàm lượng GB cao hơn, hàm lượng nước tương đối RWC cao hơn (relative water content), và áp suất thẩm thấu thấp hơn dưới điều kiện xử lý stress mặn so với cây đối chứng WT (wildtypes). Hơn nữa, hai gen đồng thể hiện dẫn đến kết quả quang hợp mạnh mẽ hơn, sự tăng trưởng cây được cải thiện tốt hơn, tăng năng suất hạt bông so với đối chứng trong nghiệm thức xử lý stress mặn. Như vậy gent ApGSMT2gApDMT2g điều khiển tính chống chịu mặn và cho năng suất cao trong điều kiện canh tác bông trên đất mặn. Xem Plant Science.

 

CRISPR Nucleases được áp dụng trong chỉnh sửa hệ gen cây bắp

 

CRISPR-Cas9 và Cas12a (Cpf1) nucleases là hai trong nhiều công cụ có tiềm năng tốt nhất trong chỉnh sửa hệ gen cây trồng. Các nhà khoa học của Iowa State University đã so sánh hoạt tính của hai enzyme này “nucleases” nhờ tìm đến điểm đích là gen glossy2 của cây bắp. Đứng đầu nhóm nghiên cứu là Keunsub Lee, đã đưa vào phân tử hướng dẫn “SpCas9‐guide RNA” (gRNA) và LbCas12a‐CRISPR RNA (crRNA) vào phôi mầm cây bắp cận giao thông qua chuyển nạp gián tiếp bằng vi khuẩn Agrobacterium. Phân tích cho thấy 90-100% cây “Cas9‐edited T0” mang tất cả đột biến có chủ đích, 63-77% cây T0 này là đồng hợp tử hoặc “biallelic”. Trong khi, 0-60% cây “Cas12a-edited T0” có đột biến chủ đích. Phân tích các đột biến không chủ đích đối với hai nucleases được xác định là 18 và 67 không chủ đích đối với SpCas9 và LbCas12a, theo thứ tự. Phân tích sâu hơn vị trí không chủ đích (off‐target sites) cho thấy không có những đột biến trong thế hệ cây T1. Như vậy hệ thống CRISPR-Cas9 được dùng trong nghiên cứu này hiệu quả rất cao đặc biệ trong kỹ thuật chỉnh sửa gen trong hệ gen cây bắp. Mặt khác, CRISPR-Cas12a rất cần cho phương pháp chỉnh sửa hệ gen cây bắp. Xem Plant Biotechnology Journal.

 

Phát hiện “regulator” của nội nhũ cây lúa

 

Phát triển nội nhũ cây lúa không bình thường ảnh hưởng rất mạnh mẽ sự biểu hiện hình dạng hạt gạo và khối lượng hạt. Hình thành nội nhũ la một tiến trình rất phức tạp, nhưng có nhiều yếu tố vẫn còn chưa được biết rõ. Các nhà khoa học của China National Rice Research Institute, đã nghiên cứu một đột biến lặn, wb1, hi vọng nó có ảnh hưởng đến sự phát triển nội nhũ lúa. Đột biến wb1 phát triển nội nhũ bạc bụng ở phần bụng hạt gạo (white-belly) và hạt tính bột cấu trúc bất thường. Hạt của cây đột biến wb1 có độ bạc bụng caovà KL 1.000 hạt thấp, giảm số hạt 34% so với cây WT (wildtype). Hàm lượng amylose và amylopectin của cây lúa wb1 giảm xuống đáng kể. Người ta xác định có 12 gen ứng cử viên có thể có trong cây đột biến wb1. Phân tích số lượng phân tử transcript của tất cả những gen ứng cử viên ấy, cho thấy gen White Belly 1 (WB1), mã hóa protein “cell-wall invertase”, làm cây bị bạc bụng của hạt gạo ở phần bụng. Gen này WB1 được chỉnh sửa bằng hệ thống CRISPR-Cas9 trong dòng lúa Nipponbare khẳng địnht WB1 điều khiển bản chất của nội nhũ. Xem International Journal of Molecular Sciences.

Trở lại      In      Số lần xem: 180

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD