Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Triển vọng giống đậu nành HLĐN910 trên đất trồng tiêu

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  13
 Số lượt truy cập :  21020937
Tuần tin khoa học 630 (15-21/04/2019)
Thứ bảy, 13-04-2019 | 05:39:50

Nghiên cứu giải thích làm sao cây trồng tăng trưởng kém khi thời tiết nóng

 

Cây trồng đã và đang phát triển một hệ thống vô cùng phức tạp mà khi cây trồng phơi nhiễm trong môi trường cực đoan ví dụ như khí hậu nóng, năng lượng của nó sẽ bị chuyển hướng ngược lại với tăng trưởng bình thường. Các nhà khoa học Nhật Bản thuộc Nara Institute of Science and Technology (NAIST) đã ghi nhận rằng có hai yếu tố phiên mã (transcription factors), ANAC044 và ANACO85, vô cùng cần thiết trong cơ chế này trong cây Arabidopsis, điều ấy cung cấp cho chúng ta minh chứng làm sao cây có thể điều tiết sự tăng trưởng của chúng nhất là đối với các loài cây trồng nông nghiệp quan trọng. Kết quả nghiên cứu đuọc công bố trên tạp chí eLife. Trong những nghiên cứu trước đó, Giáo sư Masaaki Umeda, NAIST, và cộng tác viên đã ghi nhận SOG1 bị kích hạt bởi sự kiện DNA bị tổn thương, SOG1 điều hòa hầu hết các gen bị kích hoạt khi tổn thương như vậy, Trong khi đó, Rep-MYBs được ổn định trong khi DNA bị tổn thương để ức chế sự phân bào. Trong nghiên cứu mới nhất, nhóm khoa học gia của Umeda cho thấy ANAC044 và ANAC085 hoạt động như một cầu nối giữa SOG1 và Rep-MYB. Họ tìm thấy ANAC044 và ANAC085 rất cần cho sự chậm lại tăng trưởng của rễ và cái chết của tế bào thân, không phục vụ cho sự kiện sửa lỗi DNA (DNA repair). Đặc biệt là ANAC044 và ANAC085 có chức năng ngăn cản chu trình tế bào từ phase G2 đến phân bào giảm nhiễm để đáp ứng lại khi DNA bị tổn thương. Như vậy ANAC044 và ANAC085 đóng vai trò như những “gatekeepers” (ngườ gác cổng) trong phase G2 của chu trình tế bào dưới điều kiện bị stress phi sinh học. Nggiên cứu cho thấy đây là một cơ chế mới làm tối ưu hóa sự tăng trưởng của cơ quan khi cây bị stress. Hãy xem ANAC044 và ANAC085 là nhân tố làm gia tăng năng suất cây trồng. Xem  NAISTeLife.

 

Các nhà khoa học Việt Nam phát triển dòng lúa chống chịu khô hạn

 

Gen mã hóa protein đóng vai trò yếu tố phiên mã DREB1A của cây Arabidopsis, bắp, canola, lúa mạch, lúa, cà chua và lúa mì đã được dòng hóa, Nhiều nghiên ứu đã chứng minh sự thể hiện của DREB1A làm gia tăng tính chống chịu khô hạn của cây transgenic. Theo một nghiên cứu trước đó, gen MtOsDREB1A đã được phân lập và gen OsDREB1A đã được chuyển nạp thành công vào giống lúa Chanh. Kết quả được công bố trên tạp chí Nông Nghiệp và Phát Triển Nông thôn. Có 4 dòng lúa transgenic duy trìn được transgene đến thế hệ T3. Sau 3 tuần xử lý trong nghiệm thức không có nước (khô hạn), dòng lúa transgenic này thể hiện khả năng phục hồi sức sống tốt. Xét nghiệm sự thể hiện gen cho thấy OsDREB1A và một số gen liên quan đến chống chịu khô hạn trong dòng lúa transgenic đã tăng cường sự thể hiện của chúng khi cây lúa bị khô hạn. Kết quả còn cho thấy sự tăng lên của hiện tượng thể hiện gen OsDREB1A tương quan thuận với sự gia tăng của các đối chứng và tính chịu hạn có liên quan của dòng lúa transgenic. Xem Journal of Agriculture and Rural Development.

 

Tính kháng bệnh bạc lá của giống lúa TBR225

 

  Họ gen OsSWEET mã hóa protein đóng vai trò “sugar transporters” có trong bệnh bạc lá lúa (BLB). Công trình nghiên cứu được công bố trong tạp chí Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, promoter OsSWEET14 được phân lập từ vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae (Xoo) trong giống nhiễm TBR225. Đoạn phân tử DNA có kích thước 1392-bp có 4 yếu tố cis được đặ biệt ghi nhận bởi protein Xoo TAL, bao gồm TalC, Tal5, PthXa3 và AvrXa7.Gen OsSWEET14-TBR225 cho thấy độ đồng nhất 99% và 100% đối với OsSWEET14 của giống lúa japonica và indica đăng ký GeneBank (Niponbare, AP014967.1 - japonica và Shu tạihui498, CP018167.1 - indica), theo thứ tự. Trên cơ sở trình tự DNA, ba phân tử gRNAs được thiết kế nhằm cải biên TAL effector gắn kết với promoter OsSWEET14 và thực hiện knockout gen OsSWEET14 thông qua hệ thống chỉnh sử gen CRISPR-Cas9 nằm tăng cường tính kháng của giống lúa TBR225. Các nhà nghiên cứu có thể sử dụng nguyên tắc làm tăng tính kháng BLB và tăng năng suất giống laú bằng công nghệ genome editing tại Việt Nam. Xem Journal of Agriculture and Rural Development.

 

Knockouts gen đơn và nhiều gen bằng CRISPR-Cas9 trong cây bắp

 

 Các nhà khoa học Pháp thuộc Institut National de la Recherche Agronomique cùng với các đồng nghiệp ở Italy đã báo cáo sử dụng đột biến gen có chủ đích đối với đơn gen và đa gen thông qua chuyển nạp gen ổn định. Công trình khoa học này được công bố trên tạp chí Plant Cell Reports. Họ đã sử dụng hai vectors khác nhau CRISPR-Cas9 cho phép sự thể hiện của phân tử “multiple guide RNAs” và áp dụng nhiều kỹ thuật knockout gen độc lập hoặc gen có tính chất “paralogous” (dị đồng). Họ tạo ra 12 plasmids đại diện cho 28 Phân tử “single guide RNAs” (sgRNAs) để xác định đích của 20 gen. Đối với 18 gen trong các gen đích ấy, có ít nhất một “mutant allele” thu nhận được, trong khi có hai gen đi ngược lại chỉnh sử trình tự gen. Ngườita thấy đó là những chèn đoạn cực nhỏ hoặc mất đoạn với ít hơn 10 nucleotides, bất luận gen ấy được xác định đúng vị trí bởi một hoặc nhiều sgRNAs. Người ta còn thấy những mất đoạn của các vùng đích định vị gữa những điểm xác định của hai phân tử guide RNAs. Hơn nữa, những mutant dạng kép hoặc dạng ba đều đựo sáng tạo ra trong cùng một qui trình, quan trọng cho phân tích chức năng gen có liên kết di truyền chặt chẽ. Đa số (85%) cây được chỉnh sửa hoàn toàn có thể mang đột biến ấy truyền cho thế hệ sau phân ly theo định luật Mendel. Xem Plant Cell Reports.

 

Công nghệ di truyền trên nấm men để cải tiến sự hiểu biết về công việc của tế bào

 

Các nhà khoa học Anh thuộc  University of Cambridge and Imperial College London, cùngvới đồng nghiệp ở Astra Zeneca, đã sử dụng thuật toán và công nghệ genome học để chỉnh sửa hệ gen nấm men (yeast cells) giúp cho nhà khoa học kiểm soát được cái gì làm cho tế bào nhạy cảm rồi hoạt động theo cách mong muốn. “Yeast senses” (sự nhạy cảm của nấm men) với ngoại cảnh thông qua sử dụng G protein-coupled receptors (GPCRs). GPCRs cho phép tế bào nấm men nhạy cảm với các hóa chất ví dụ như hormones, chất độc, thuốc có trong môi trường. Chúng có thể là receptors của ánh sáng, mùi, và vị receptors. Nhóm các nhà khoa học Cambridge đãphát tiển mô phỏng toán của tế bào nấm men với những hàm lượng khác nhau của các thành phần trong tế bào khác nhau và tìm ra mức độ tối hảo của hầu hết những tín hiệu trong tưng trường hợp. Thông tin của Imperial College London đối với tế bào được cải biên di truyền đã được công bố. Dr. William Shaw, nhà khoa học của Imperial College London cho rằng thông tin mới ấy cho phép chúng ta hiểu chính xác công nghệ di truyền trong một tế bào – những nhạy cảm của chúng theo cách mà chúng có khả năng kiểm soát. Thông qua mô phỏng toán, nhóm nghiên cứu sáng tạo ra các chủng nòi mới có tính chất cải tiến cao của nấm men với tương tác không có tính chất sense mà không có chu trình truyền tín hiệu GPCR. Điều này cho phép học dự đoán chính xác làm thay đổi cách thức của tế bào phản ứng với môi trường cực đoan. Xem University of Cambridge.

 

Hình: Microscopic yeast – illustration. Credit: Kateryna Kon via Shutterstock

Trở lại      In      Số lần xem: 209

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD