Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Trung Tâm NC Khoai tây, Rau và Hoa, trồng rau Hàn Quốc theo VietGap

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  12
 Số lượt truy cập :  26871031
Tuần tin khoa học 755 (20-26/09/2021)
Thứ bảy, 18-09-2021 | 07:43:31

Di truyền tính chống chịu nóng của cây bắp

 

Nguồn: Zhaoxia LiStephen H Howell. 2021. Heat Stress Responses and Thermotolerance in Maize. Int J Mol Sci.; 2021 Jan 19;22(2):948.  doi: 10.3390/ijms22020948.

 

Nhiệt độ nóng gây stress nóng làm xáo trộn sinh lý bảo hòa của tế bào (cellular homeostasis) và gây tôn thưởng cho tăng trưởng và phát triển của thực vật. Tổn thất to lớn của nông nghiệp hiện nay do một phần của stress nóng, thường đi liền với những loại hình stress khác. Thực vật tiến hóa để phản ứng lại stress nóng để giảm thiểu sự thiệt hại và bảo vệ cây trồng khi stress ngày càng cực đoan. Một khung rất hẹp của nhiệt độ làm phân biệt sự khác nhau về tăng trưởng của stress nóng, khoảng biến thiên nhiệt độ ấy gắn với một điểm tăng trưởng tối ưu thường bị chồng lấp với stress nóng phát sinh ra. Stress nóng kích thích một phản ứng có thuật ngữ khoa học là HSR ở tế bào chất (cytoplasmic heat stress response) theo đó, protein HSFs (heat shock transcription factors) đóng vai trò yếu tố phiên mã làm tăng cường một chòm sao quy tụ các gen mã hóa protein HSPs (heat shock proteins). Stress nóng còn kích hoạt mạng võng nội chất (endoplasmic reticulum: ER) nơi mà protein không gấp cuộn phản ứng UPR (unfolded protein response), điều này hoạt hóa những yếu tố phiên mã điều tiết theo kiểu “up” thuộc một học protein khác với protein của những gen nói trên. Stress nóng còn hoạt hóa phản ứng của hormone và sự kiện RNA splicing luân phiên, tất cả đều có thể tham gia vào kết quả chống chịu nhiệt (thermotolerance). Stress nóng được nghiên cứu bởi thao tác cây trồng theo nghiệm thức tăng dần từng bước nhiệt độ; tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng: shock nhiệt bị phản ứng đều xảy ra trong điều kiện đồng ruộng được mô phỏng (simulated field) trong đó, nhiệt độ tăng chậm cho đến trung bình. Phản ứng stress nóng, được đánh giá ở mức độ phân tử, có thể được người ta ứng dụng như những tính trạng phục vụ nhà chọn giống tuyển chọn và sàng lọc tính chất chống chịu nhiệt (thermotolerance).

 

Xem : https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33477941/

 

Di truyền tính trạng ẩm độ hạt bắp

 

 Nguồn: Wenqiang LiYanhui YuLuxi WangYun LuoYong PengYuancheng XuXiangguo LiuShenshen WuLiumei JianJieting XuYingjie XiaoJianbing Yan. 2021. The genetic architecture of the dynamic changes in grain moisture in maize. Plant Biotechnol J.; 2021 Jun;19(6):1195-1205.  doi: 10.1111/pbi.13541. Epub 2021 Feb 11.

 

Ẩm độ hạt thấp vào luc thu hoạch là điều kiện cần thiết để nông sản an toàn, phục vụ vận chuyển và tồn kho, nhưng kiến trúc di truyền của tính trạng này trên cây bắp (Zea mays) vẫn chưa được biết rõ. Công trình nghiên cứu này tiến hành qun sát động thái biến đổi ẩm độ hạt trên cơ sở bản đồ association từ nguồn tập đoàn 513 dòng bắp cận giao có đa dạng di truyền tại 5 giai đoạn, ở 5 địa điểm khảo nghiệm khác nhau. GWAS (genome-wide association study) cho thấy có 71 QTLs ảnh hưởng đến tính trạng ẩm độ hạt. Giá trị tương tác kiểu “epistatic” đóng vai trò chủ lực đối với biến dị của tính trạng ẩm độ hạt, cả những QTL chính ở giai đoạn hạt non đến giai đoạn hạt khô dần. Tương tác QTL và môi trường ảnh hưởng đến biến dị theo không gian và thời gian của tính trạng ẩm độ hạt, được hoạt hóa đầu tiên ở những thời điểm đặc biệt. Kết hợp phân tích quần thể di truyền với phổ biểu hiện transcriptome và chỉnh sửa gen, các tác giả công trình này đã xác định gen GRMZM5G805627 và GRMZM2G137211 là những gen ứng cử viên chỉ ra QTL chủ lực điều khiển tính trạng ẩm độ hạt bắp. Kết quả cung cấp những kiến thức về kiến trúc di truyền của những biến đổi cơ học về ẩm độ hạt bắp, giúp cho việc chọn tạo giống bắp dễ dàng hơn.

 

Xem: https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33386670/

 

Gen lặn pepy-1 mã hoá Pelota giúp cây ớt kháng bệnh siêu vi

 

Nguồn: Sota KoedaMika OnouchiNamiko MoriNadya Syafira PohanAtsushi J. Nagano & Elly Kesumawati. 2021. A recessive gene pepy-1 encoding Pelota confers resistance to begomovirus isolates of PepYLCIV and PepYLCAV in Capsicum annuum. Theoretical and Applied Genetics September 2021; vol. 134: 2947–2964

 

Tính kháng begomovirus của gen pepy-1, mã hóa messenger RNA surveillance factor Pelota, được người ta phân lập thành công trong cây ớt (C. annuum) thông qua kỹ thuật map-based cloning và định tính chức năng của gen. Bệnh vàng xoắn lá ớt do siêu vi begomoviruses đã làm thiệt hại khá trầm trọng sản lượng ớt tại nhiều vùng trên thế giới. Các gen Ty của cà chua, liên quan đến tính kháng bệnh vàng xoăn lá cà chua, bởi begomovirus được dòng hóa thành công. Theo công trình nghiên cứu này, người ta tập trung phân lập những gen kháng begomovirus trong cây ớt Capsicum annuum. BaPep-5 được xác định là nguồn vật liệu cho gen kháng bệnh vàng xoăn lá ớt đối với Indonesia virus (PepYLCIV) và đới với Aceh virus (PepYLCAV). Một gen lặn đơn có tên là pepper yellow leaf curl disease virus resistance 1 (pepy-1), phản ứng kháng với PepYLCAV trong giống ớt BaPep-5 đã được xác định trên nhiễm sắc thể số 5, quần thể con lai F2 của cặp lai giữa BaPep-5 và giống ớt nhiễm begomovirus, mẫu giống BaPep-4. Tại vùng đích,vùng có độ lớn phân tử 34 kb mang một gen đơn, lặn, điều tra phân tử messenger RNA, factor Pelota, được người ta phân lập. Kết quả chạy whole-genome resequencing hệ gen của hai giống BaPep-4 và BaPep-5 so sánh với hệ gen tham chiếu cho thấy rằng: a đa hình nucleotide (A đến G) định vị tại splice site của intron thứ 9 thuộc gen CaPelota của giống ớt BaPep-5, gây nên hiện tượng chèn đoạn tại intron thứ 9 vào phân tử transcript, cho ra kết quả bổ sung 28 amino acids vào protein CaPelota mà không gây ra hiệu quả dịch khung (frameshift). Làm câm gen virus của CaPelota trong giống ớt nhiễm begomovirus - giống No.218; kết quả có phản ứng kháng PepYLCIV, một kiểu hình có trong giống BaPep-5. Chỉ thị phân tử DNA của nghiên cứu này sẽ giúp cho thực hiện MAS trong chọn tạo giống ớt kháng begomovirus thuận lợi hơn.

 

Xem: https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-021-03870-7

 

Di truyền tính kháng bệnh đạo ôn lúa và lúa mì

 

Nguồn: Huijun GuoQidi DuYongdun XieHongchun XiongLinshu ZhaoJiayu GuShirong ZhaoXiyun SongTofazzal IslamLuxiang Liu. 2021. Identification of Rice Blast Loss-of-Function Mutant Alleles in the Wheat Genome as a New Strategy for Wheat Blast Resistance Breeding. Front Genet. 2021 May 19;12:623419.  doi: 10.3389/fgene.2021.623419. eCollection 2021.

 

Bệnh đạo ôn do nấm Magnaporthe oryzae gây ra những thiệt hại rất lớn cho sản xuất lúa trên toàn thế giới, kể cả cây lúa mì. Bùng phát bệnh cháy lá lúa mì lần đầu tiên xảy ra ở Bangladesh năm 2016 và bùng phát thành bệnh dịch ở Zambia do nấm M. oryzae Triticum (MoT), một chủng nòi thuộc chi M. oryzae. Cho dù có ít báo cáo về giống lúa mì có tính kháng với MoT, nhưng thành phần của biến dị di truyền và đa dạng di truyền của pathotype này khẳng định sự cần thiết phải xác định những dòng mang tính chất additional của nguồn giống bố mẹ lúa mì cho gen kháng. Gần 40 gen kháng và nhiễm được phân lập đã được dòng hóa. Người ta sử dụng kỹ thuật phân tích BLAST để định vị hai gen nhiễm đạo ôn lúa trong hệ gen tham chiếu lúa mì, bsr-d1 và bsr-k1, rồi xác định sáu gen tương đồng (homologous) định vị trên subgenomes A, B, và D. Người ta xác định 171 chỉ thị phân tử SNPs trong quần thể đột biến hóa học EMS (ethyl methanesulfonate), với mật số đột biến thay đổi từ 1/1107.1 đến 1/230.7 kb thông qua chạy TILLING (Targeting Induced Local Lesions IN Genomes) bởi sequencing. Tất cả bao gồm 81 SNPs định vị vùng exon và promoter, và 13 coding alleles được dự đoán là có ảnh hưởng nghiêm triọng đến chức năng protein, đó là: hai đột biến pre-mature có thể gây ảnh hưởng nhất định đến tính kháng bệnh cháy lá cây lúa mì. Những alen có tính chất loss-of-function được phân lập trong nghiên cứu này cung cấp những kiến thức mới về dòng lúa mì kháng bệnh cháy lá.

 

Xem: https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/34093638/

 

Hình: Những domains bảo thủ và trình tự amino acid của gen Bsr-d1 và những phân tử đồng dạng từ hệ gen cây lúa mì (orthologs). (A) conserved domains, (B) amino acid sequence. CDS means coding sequence.

Trở lại      In      Số lần xem: 54

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD