Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Trung Tâm NC Khoai tây, Rau và Hoa, trồng rau Hàn Quốc theo VietGap

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  9
 Số lượt truy cập :  28725784
Tuần tin khoa học 795 (04-10/07/2022)
Thứ bảy, 02-07-2022 | 06:37:29

Di truyền tính kháng bệnh bạc lá lúa

 

Nguồn: Daniel Ruben Akiola SanyaSharifah Farhana Syed-Ab-RahmanAiqun JiaDjamila OnésimeKyung-Min KimBonaventure Cohovi AhohuendoJason R Rohr. 2022. A review of approaches to control bacterial leaf blight in rice. World J Microbiol Biotechnol.; 2022 May 17; 38(7):113.  doi: 10.1007/s11274-022-03298-1.

 

Vi khuẩn gram âm  Xanthomonas oryzae pv. oryzae, gây ra bệnh bạc lá lúa (BLB), là sự quan tâm đặc biệt vì pathogen này gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho sản xuất lúa trên toàn thế giới. Người ta cố gắng với mức nhanh nhất có thể nhằm hiểu được những cơ chế phân tử khống chế bệnh BLB không cho nó lan rộng. Bài tổng quan này ghi nhận rất nhiều yếu tố khác nhau về độc tính  của vi khuẩn của trong mạch dẫn của cây lúa khi nó xâm nhiễm vào cây chủ, cạnh tranh quyết liệt với cơ chế phòng vệ của cây chủ, rồi gây ra bệnh. Theo đó, người ta nhấn mạnh các yếu tố độc tính (virulence factors) và cơ chế phân tử với báo cáo rằng vi khuẩn X. oryzae pv. oryzae sử dụng nó làm tổ thương hệ thống tự vệ của cây chủ, những kiến thức gần đây về cơ chế có tính chất tế bào và phân tử trong tương quan giữa ký sinh và ký chủ, cũng như các hợp phần phát sinh bệnh (pathogenicity), những phương pháp phát triển giống lúa kháng được vi khuẩn X. oryzae pv. oryzae, những chiến lược làm giảm thiểu sự bùng phát dịch bệnh, và những gen mới được phát hiện, những công cụ quản lý dịch bệnh. Người ta kết luận rằng sự thực hiện và áp dụng những công nghệ mang tính chất “cutting-edge”, những công cụ cần thiết để tránh thiệt hại năng suất lúa bởi BLB và đảm bảo được an ninh lương thực.

 

Xem: https://link.springer.com/article/10.1007/s11274-022-03298-1

 

Mức độ biểu hiện mạnh mẽ gen PpBURP2 làm tăng phản ứng của hệ thống bảo vệ cây lúa đối với stresss phi sinh học và bệnh bạc lá

 

Nguồn: Shunwu YuFangwen YangYuqiao ZouYunan YangTianfei LiShoujun ChenYulan WangKai XuHui XiaLijun Luo. 2022. Overexpressing PpBURP2 in Rice Increases Plant Defense to Abiotic Stress and Bacterial Leaf Blight.  Front Plant Sci.; 2022 May 6;13:812279.  doi: 10.3389/fpls.2022.812279. 

 

 

Rêu (mosses) là một trong những thực vật đa dạng sớm nhất trên mặt đất, thích nghi giỏi với đời sống trên mặt đất này. Những protein có domain là BURP (BURP proteins) là protein chuyên tính trên thực vật, chúng xuất hiện khi thực vật dịch chuyển từ dưới nước lên đất liền. Phân tích di truyền huyết thống cho thấy BURP domain của thực vật bậc cao có nguồn gốc từ thực vật ở dưới đất thấp và rất đa dạng bởi vì có sự chuyển đổi motif. Để tìm thấy được chức năng của BURP protein trong rêu (moss), người ta sử dụng cây lúa chuyển nạp gen sự sự biểu hiện lệch (ectopic expression) của PpBURP2sự biểu ấy được kiểm soát đối với các nghiệm thức xử lý stress phi sinh học. Kết quả là sự kiện ectopic expression như vậy của PpBURP2 làm tăng cường tính chống chịu của stress mặn và stress áp suất thẩm thấu (osmotic stress) ở giai đoạn mạ và stress khô hạn ở giai đoạn cây trưởng thành. Sự kiện ectopic expression sau đó của  PpBURP2 đã cải tiến được tính chống chịu ion cadmium (Cd2+) và làm giảm sự tích tụ của Cd2+ trong lá lúa. Phân tích ở mức độ phiên mã của những cây transgenic PpBURP2 plants cho thấy các DEGs (differentially expressed genes) đều có trong cơ chế biến dưỡng những chất thứ cấp, năng lượng, tiến trình ô xi hóa khử (oxidation-reduction), và các gen có liên quan đến chức năng tự vệ. Những thí nghiệm sâu hơn cho thấy hiệu quả quang hợp và tính kháng với bệnh bạc lá lúa rõ ràng được cải tiến trong cây transgenic. Sử dụng phương pháp xét nghiệm “Yeast two-hybrid and bimolecular fluorescence complementation” (viết tắt BiFC) cho thấy tương tác vật lý của protein mang domain BURP của cây lúa và loài rêu với cơ chế MKK (mitogen-activated protein kinase kinase). Do đó, kết quả nghiên cứu này chứng minh rằng sự biểu hiện mạnh mẽ gen PpBURP2 trong cây lúa liên quan đến tính kháng những stress phi sinh học và bệnh bạc lá lúa. Vai trò điều tiết của protein giống như BURP trong thực vật bậc thấp cũng như thực vật bậc cao là kết quả tiến hóa giúp thực vật phản ứng với nhiều loại hình ngoại cảnh khác nhau, những thách thức cho thực vật sinh sống được.

 

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/35599889/

 

Di truyền tính chống chịu nóng của cây lúa

 

Nguồn: Huang ZhouYingfeng WangYijin ZhangYunhua XiaoXiong LiuHuabing DengXuedan LuWenbang TangGuilian Zhang. 2022. Comparative Analysis of Heat-Tolerant and Heat-Susceptible Rice Highlights the Role of OsNCED1 Gene in Heat Stress Tolerance. Plants (Basel); 2022 Apr 13;11(8):1062.  doi: 10.3390/plants11081062.

 

Muốn làm rõ cơ chế phản ứng của cây lúa với nhiệt độ nóng HS (heat stress), người ta thực hiện phân tích phổ thể hiện transcriptome của bông lúa, phân tích so sánh  giữa dòng lúa chịu nóng 252 (HTL252) và dòng lúa không chịu nóng 082 (HSL082), hai quần thể con lai cận giao tái tổ hợp RILs (recombinant inbred lines). Kết quả phân tích DEGs (differentially expressed genes) cho thấy những DEGs này chủ yếu gắn với protein, xúac tác, phản ứng stress, và tiến trình xảy ra trong tế bào. Phân tích MapMan chứng minh rằng các gen mang tên heat-responsive (HR) đối với việc mã hóa các heat shock proteins, yếu tố phiên mã, sự phát triển và những phytohormones bị kích hoạt một cách chuyên biệt trong dòng lúa HTL252 dưới nghiệm thức xử lý nhiệt độ nóng (HS). Trên cơ sở kết quả phân tích DEG, gen chủ chốt OsNCED1 (Os02g0704000), được kích thích bởi HS, được người ta sàng lọc và minh chứng chức năng gen thành công. Hơn thế nữa, một hệ men có tên là 9-cis-epoxycarotenoid dioxygenase (NCED) trở thành một enzyme chủ lực có tính chất key rate-limiting đối với chu trình sinh tổng hợp ABA. Sự biểu hiện mạnh mẽ của OsNCED1 cải tiến rất tốt tính chống chịu stress nhiệt (HS tolerance) của cây lúa ở giai đoạn lúa tượng khối sơ khởi và trổ bông. Cây lúa nào biểu hiện mạnh mẽ gen OsNCED1 một cách có ý nghĩa đề làm tăng khả năng sống sót của hạt phấn, mật độ hạt thụ tinh, hoạt tính của hệ men superoxide dismutase (SOD) peroxidase (POD), trong khi đó, có sự đứt gãy đáng kể “lower electrolyte” và hàm lượng malondialdehyde (MDA) tương ứng với kiểu hình nguyên thủy (WT). Như vậy, sự biểu hiện mạnh mẽ OsNCED1 có thể cải tiến được tính trạng chống chịu stress nhiệt độ nóng của cây lúa, thông qua tăng cường khả năng antioxidant. Nhìn chung, kết quả này là nền tảng cho chúng ta hiểu được cơ chế điều tiết ở mức độ phân tử khi cây lúa phản ứng với stress nóng kéo dài.

 

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/35448790/

 

Chỉnh sửa gen có tính chất “multiplex” đối với “starch branching enzyme genes” cây lúa

 

Nguồn: Sudip Biswas, Oneida Ibarra, Mariam Shaphek, Marco Molina-Risco, Mayra Faion-Molina, Marcela Bellinatti-Della Gracia, Michael J. Thomson,E ndang M. Septiningsih. 2022. Increasing the level of resistant starch in ‘Presidio’ rice through multiplex CRISPR–Cas9 gene editing of starch branching enzyme genes. The Plant Genome 2022:e2025; First published: 17 June 2022; https://doi.org/10.1002/tpg2.20225

 

 

Cây lúa (Oryza sativa L.) là nguồn cung cấp tinh bột tuyệt vời, bao gồm amylopectin và amylose. Tính trạng RS (resistant starch) là một sản phẩm tinh bột rất dễ tiêu hóa và được hấp thu trong dạ dày hoặc ruột non. Những loài mễ cốc có RS cao, có thể là kết quả thuận lợi để cải thiện sức khỏe con người, làm giảm rủi ro bệnh mãn tính bởi hệ tiêu hóa. Người ta ghi nhận rằng: thông quan đột biến nhân tạo bằng phương pháp hóa học và và kỹ thuật sử dụng phân tử RNA can thiệp cho thấy: các phân tử SBEs (starch branching enzymes) có vai trò rất quan trọng trong mức độ cao hơn của tính trạng RS của loài cây trồng thuộc mễ cốc. Theo kết quả nghiên cứu này, người ta sử dụng phương pháp multiplex thông qua hệ thống CRISPRCas9 trong chỉnh sửa gen nhằm mục đích chỉnh sửa đồng thời một lúc 4 gen  SBE của hệ gen cây lúa, sử dụng tRNA nội sinh  phục vụ  việc biểu hiện phân tử single-guide RNAs (sgRNAs) đánh dấu đích đến của 4 gen này. Vector được thiết kế mang CRISPR–Cas9 với 4 gen SBE và sgRNAs, chúng được chuyển nạp vào trong giống lúa trồng Hoa Kỳ tên là Presidio, thông qua kỹ thuật chuyển nạp gián tiếp nhờ vi khuẩn Agrobacterium. NHững đột biến mang tính chất knockout được xác định tại tất cả 4 gen SBE thông qua 8 cây T0 . Dòng T1 không có transgene với những tổ hợp khác nhau của gen SBE bị xử lý cũng được phân lập, kết quả cho nhiều dòng SBE-edited biểu hiện sự tăng lên đáng kể RS đến mức 15% cao hơn giống nguyên thủy (WT) là Presidio. Cho dù có nhiều cố gắng sau đó, nhưng người ta cần phải cố định được tất cả những  alen đột biến ấy như trạng thái đồng hợp tử, kết quả minh chứng được khả năng thực hiện multiplex (thực hiện chỉnh sửa gen cùng một lúc) nội dung genome editing  để phát triển dòng lúa có hàm lượng RS cao.

 

Xem https://acsess.onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/tpg2.20225

 

Hình: Những vùng đích của phân tử guide RNA (gRNA), 4 gen STARCH BRANCING ENZYME (SBE), phân tử transfer RNA (tRNA) – trong vector mang phân tử single-guide RNA (sgRNA) đến gen SBE in vitro.

Trở lại      In      Số lần xem: 62

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD