Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Nông nghiệp 4.0 – Cơ hội cho nông nghiệp Việt Nam

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  15
 Số lượt truy cập :  19595507
Vi khuẩn kích thích sinh trưởng thực vật giúp tăng cường khả năng chịu mặn của thực vật
Thứ sáu, 28-09-2018 | 08:25:01

Độ mặn của đất là một vấn đề nghiêm trọng trong canh tác cây trồng và việc nghiên cứu giúp làm giảm độ mặn của đất là trách nhiệm của các nhà khoa học.

 

Độ mặn của đất là một trong những yếu tố stress phi sinh học ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp trên toàn thế giới. Mỗi ngày, gần 2.000ha đất nông nghiệp màu mỡ bị suy thoái do bị nhiễm mặn. Có một số biện pháp giới hạn đối phó với đất nhiễm mặn, đặc biệt trong trường hợp đối với cây trồng nhạy cảm với nồng độ muối cao như lúa và lúa mì, năng suất bị hạn chế nghiêm trọng do sự nhiễm mặn ở nhiều địa điểm trên trái đất. Trong số các biện pháp thì vi khuẩn kích thích sinh trưởng thực vật (PGPB) có tiềm năng lớn để cải thiện năng suất cây trồng trong điều kiện mặn, nhưng tiến độ ứng dụng PGPB còn chậm do thiếu phương pháp không xâm lấn để kiểm tra hiệu quả của các vi khuẩn khác nhau giúp tăng khả năng kháng mặn cho cây trồng. Nghiên cứu hợp tác giữa các nhà khoa học thuộc Đại học Quốc gia Chungbuk, Hàn Quốc và Đại học Khoa học Đời sống Estonia đã xem xét các đặc điểm phát thải dễ bay hơi và quang hợp ở thực vật như là các dấu hiệu tiềm ẩn không xâm lấn để ước tính sự cải thiện tính kháng mặn khi nhiễm vi khuẩn rhizosphere (PGPR) Brevibacterium linens RS16 vào cây lúa.

 

Nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc kiểm soát phát thải hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC) của cây trồng, nhưng nó có tác động lớn đến môi trường và biến đổi khí hậu. Độ mặn càng cao gây ra hiện tượng stress oxy hóa trong thực vật, cuối cùng dẫn đến giảm đáng kể sự quang hợp. Stress mặn được quan sát có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các đặc tính quang hợp và phát thải dễ bay hơi, do đó kiểm tra các đặc tính quang hợp và phát thải dễ bay hơi như các công cụ không xâm lấn trong điều kiện mặn.

 

Giáo sư Ülo Niinemets thuộc Đại học Khoa học Đời sống Estonian cho biết điều này có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về mức độ nghiêm trọng của stress cũng như cảm ứng của các con đường chuyển hóa chính và thứ cấp thông qua sự tiến triển của stress.

 

Cây lúa khỏe mạnh (A) và Cây lúa bị nhiễm mặn (B)

 

Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng giống lúa IR29 (nhạy cảm với độ mặn) và FL478 (giống lúa chịu mặn vừa phải) để đánh giá sự đồng hóa carbon trên lá và tỷ lệ phát xạ dễ bay hơi do phản ứng của vi khuẩn B. linens RS16 khi tăng nồng độ muối trong đất. Việc nhiễm B. linens RS16 vào các cây lúa làm giảm bớt mức độ nghiêm trọng của stress mặn, đặc trưng bởi việc tăng cường đặc tính quang hợp và giảm phát thải dễ bay hơi. Những thay đổi lớn hơn được phát hiện đối với giống IR29 nhạy cảm với độ mặn so với giống FL478 kháng mặn vừa phải. Kết quả cho thấy stress mặn ảnh hưởng tiêu cực đến đặc tính quang hợp của lá trong cả hai giống lúa. Thông thường độ mặn làm tăng tỷ lệ phát thải của các chất bay hơi qua tán lá nhưng chủng B. linens RS16 đã cải thiện đáng kể các đặc tính quang hợp và giảm phát thải dễ bay hơi trong các giống lúa chịu mặn, so với cây đối chứng.

 

Mai Thanh Trúc theo Sciencedaily.

Trở lại      In      Số lần xem: 167

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD