Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Trung Tâm NC Khoai tây, Rau và Hoa, trồng rau Hàn Quốc theo VietGap

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  13
 Số lượt truy cập :  26819596
Bệnh Rỉ sắt

Tên khoa học: Phakopsora pachyrhizi Sydow, Phakopsora sojae Sawada.

Triệu chứng bệnh rỉ hại đậu nành (Phakopsora pachyrhizi Sydow, Phakopsora sojae Sawada.)

Đây là một bệnh rất phổ biến ở các vùng trồng đậu nành, gây hại với các mức độ khác nhau, trên hầu hết các giống đậu nành đang canh tác. Bệnh có thể xuất hiện trên tất cả các mùa vụ tại Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng bệnh thường phát triển mạnh vào vụ Hè Thu, khi có mưa nhiều, lớp không khí ở mặt đất có độ ẩm cao. Bệnh thường nặng ở các ruộng đậu nành  xen canh với bắp.

 

Bệnh có thể tấn công từ khi cây đậu nành có hai lá kép cho đến lúc trái chín. Bệnh phát triển chậm vào giai đoạn từ cây con đến trước khi ra hoa, nhưng sau đó bệnh sẽ phát triển nhanh và nặng hơn. Lá còn non có sức chống chịu bệnh cao hơn các lá già. Điều này có thể do ở lá non có chứa nhiều đạm tổng hợp và đạm protein hơn ở lá già.

 

Lá, thân và trái đậu nành đều bị nhiễm bệnh, nhưng bệnh xuất hiện chủ yếu trên các lá già.

 

Trên lá, vết bệnh mới xuất hiện là những đốm tròn nhỏ, có nhiều màu sắc khác nhau: xanh nhạt, nâu vàng hoặc nâu xám, lấm tấm như đầu kim, rải rác đều trên mặt lá. Sau đó vết bệnh phát triển rộng ra khoảng 1mm, có dạng tròn hoặc dạng có góc cạnh hoặc bất dạng, có màu nâu vàng hoặc nâu đỏ như màu rỉ sắt hoặc nâu đen. Đặc tính về màu sắc và kích thước vết bệnh thường thay đổi khác nhau, chủ yếu là do khả năng gây bệnh của nấm, giống đậu nành và điều kiện thời tiết. Triệu chứng bệnh đặc biệt là vết bệnh nhô lên ở hai mặt lá, thường nhô cao ở mặt dưới lá. Đây là do đặc tính thích nghi môi trường của nấm bệnh: ở mặt dưới của lá có ẩm độ và nhiệt độ thích hợp cho nấm phát triển. Ngoài ra, mưa và ánh nắng gay gắt cũng không ảnh hưởng trực tiếp như ở mặt trên của lá. Bệnh nặng, các vết bệnh liên kết lại với nhau, làm cho lá bị khô cháy từng mãng hoặc cả lá, lá rụng nhiều, cây mất dần khả năng quang hợp. Nếu bệnh nặng vào giai đoạn cây chưa ra hoa, kết trái, sẽ làm thất thu năng suất hoàn toàn.

 

Bệnh rỉ hại đậu nành (nành) do nấm Phakopsora pachyrhizi Sydow; Phakopsora sojae Sawada.

Tác nhân gây bệnh rỉ hại đậu nành (nành)

Do nấm Phakopsora pachyrhizi Sydow; Phakopsora sojae Sawada.

 

Nấm gây bệnh thuộc lớp nấm Đãm (Basidiomycetes). Trên đồng ruộng, nấm gây bệnh thường ở dạng sinh sản vô tính, thường gặp nhất là các hạ bào tử (uredospore), chúng tập hợp lại thành các hạ bào quần (uredosores) nhô lên ở hai mặt lá.

 

Hạ bào quần có kích thước 197- 258 x 97-108 micron, được thành lập dưới lớp biểu bì lá, sau đó nhô lên khỏi bề mặt lá.

 

Hạ bào tử có kích thước 4,7-13 x 2,1-5,6 micron, gồm một tế bào không màu hoặc vàng nhạt, dạng bầu dục không đều (có đầu trên tròn, hơi phình to, đầu dưới thu nhỏ lại), bên trong hiện rõ 1-2 hạt dầu.

 

Khi gặp trời rét, vết bệnh có màu nâu đen hoặc đen do ổ nấm được thành lập là những đông bào quần (teleutosores, teliosori), chứa các đông bào tử (teleutospores, teliospores). Đông bào tử có kích thước 12-34 x 5-13 micron, gồm một tế bào màu nâu, dạng bầu dục dẹp (ellip) hoặc góc cạnh.

Biện pháp phòng trị bệnh rỉ do nấm Phakopsora pachyrhizi Sydow; Phakopsora sojae Sawada.

- Biện pháp canh tác, kỹ thuật:

 

* Giống: Nên trồng giống đậu nành kháng hoặc ít nhiễm bệnh. Giống Tainung 63 kháng được bệnh này. Kết quả trắc nghiệm tại Trường Đại Học Cần Thơ qua hai vụ ĐX 82-83 và ĐX 83-84 cho thấy các giống/dòng sau đây tỏ ra ít bị nhiễm bệnh: Orba, Dun, DL, C 5-20, 1338 mới, MTĐ 22, MTĐ 22-1, MTĐ 22-3, MTĐ 22-4 và MTĐ 120-2.

 

Trong những năm qua, đa số các giống đậu nành được trồng tại Đồng bằng sông Cửu Long đều bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên, nhờ đặc tính nhiễm trể nên thất thu năng suất không đáng kể. Thực tế nhất, nên chọn giống từ ruộng không bị bệnh hoặc chỉ nhiễm nhẹ. Hạt tốt, đầy đặn cũng là yếu tố giúp cây phát triển tốt, chống chịu được bệnh.

 

* Thời vụ: giữ vai trò quan trọng trong việc phòng bệnh. Tại Đồng bằng sông Cửu long, không riêng bệnh rỉ mà đối với đa số các bệnh do nấm và vi khuẩn, đậu nành được trồng ở vụ Đông Xuân thường bị nhiễm bệnh nhẹ hơn ở vụ Hè Thu. Nên gieo sạ đúng thời vụ.

 

* Kỹ thuật canh tác:

 

+ Mật độ gieo sạ: Cần bảo đảm mật độ gieo sạ ở từng vùng canh tác, gieo sạ dày sẽ tạo điều kiện vi khí hậu thích hợp cho bệnh phát triển, ngược lại, gieo sạ thưa thì cỏ dại sẽ phát triển mạnh.

 

+ Nước tưới: Áp dụng chế độ nước tưới đầy đủ không để ruộng bị khô hạn hoặc bị úng nước. Bảo đảm nguồn nước tưới không chứa mầm bệnh.

 

+ Phân bón: Bón phân đầy đủ và cân đối, không bón quá nhiều phân đạm, tăng cường phân lân và kali cho những ruộng thường xuyên bị nhiễm nặng.

 

* Vệ sinh đồng ruộng.

 

+ Đất: sửa soạn kỹ, nên phơi đất để diệt bớt nguồn bệnh hoặc khử đất bằng thuốc trừ nấm.

 

+ Sau vụ mùa và trước khi canh tác, nên gom các xác bã cây và cỏ dại để thiêu đốt hoặc chôn sâu, nhất là ở những ruộng đã nhiễm bệnh nặng.

 

* Khử hạt: nguồn lây lan quan trọng của bệnh này là các hạ bào tử của nấm bệnh bám trên hạt giống, nên việc khử hạt là rất cần thiết để bão vệ cây ở giai đoạn cây còn nhỏ. Có thể khử hạt bằng nước “ba sôi - hai lạnh“ (khoảng 52oC) trong 15 phút, hoặc bằng nước muối 5%, hoặc thuốc khử hạt giống 0,1%-0,2 %.

 

- Biện pháp hóa học:

 

+ Cần phát hiện bệnh sớm và sử dụng thuốc kịp thời. Áp dụng thuốc khi có bệnh xuất hiện.

 

+ Loại thuốc: có thể dùng một trong các loại sau: Tilt 250ND, Tilt super 300ND.

 

+ Định kỳ: xịt 2-3 lần, cách nhau 10-15 ngày, trường hợp bệnh nặng thì xịt định kỳ 7 ngày một lần cho đến khi bệnh ngưng phát triển.

 

Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (WASHINGTON, Nov. 10, 2004), chủng nấm gây bệnh rỉ có hai nòi chính: nấm rỉ gây hại nghiêm trọng cho năng suất đậu tương là Phakopsora pachyrhizi là nòi gây bệnh phổ biến được tìm thấy ở Louisiana là có nguồn gốc ở châu Á. Phakopsora pachyrhizi được phát hiện đầu tiên tại Nhật năm 1902 và được đặt tên vào năm 1914. Lần đầu tiên, bệnh được phát hiện tại Mỹ vào năm 1922, vùng Bắc Carolina. Bệnh rỉ Phakopsora pachyrhizi mới đây cũng được phát hiện tại Hawaii, Châu Phi và Nam Mỹ. Ngoài đậu tương, nấm Phakopsora pachyrhizi người ta còn thấy trên 87 loài cây khác nhau. Một nòi bệnh rỉ khác là Phakopsora meibomiae được phát hiện từ năm 1992 tại Puerto Rico. (Wolf, 1922).

 

Bào tử nấm rỉ được phân tán rất xa theo gió và gây hại qua hạ bào tử (uredospore) phát triển trên lá làm rụng lá. Bệnh cũng có thể gây hại trên thân, cuống lá và trái. Bệnh ban đầu xuất hiện ở tầng lá thấp, khi bắt đầu hình thành trái thì bệnh rỉ lan ra và phá hại các tầng lá trên. Áp dụng thuốc trừ nấm bệnh có thể giảm bớt tổn thất năng suất nhưng phải phát hiện sớm ngay từ khi bắt đầu xuất hiện vết bệnh ở tầng lá thấp.

 

Năm 1984, một số kết quả nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu và Phát triển rau đậu Châu Á (AVRDC) tại Đài Loan cho thấy hầu hết các giống đậu tương đều nhiểm bệnh rỉ sắt, nhất là những giống nhập từ Mỹ, chỉ có 1% số giống (có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên) là có sức đề kháng bệnh trung bình. (Bùi  Trung Tá, 1984)

 

Tính kháng bệnh rỉ Phakopsora pachyrhizi được xác định bởi 4 đơn di thể trội (Rpp1, Rpp2, Rpp3, và Rpp4). Rpp1 được ghi nhận là tạo ra tính kháng với một vài chủng nấm bệnh rỉ trên giống đậu tương India 73-1. Rpp1 và một số gen khác duy trì tổn thương dạng RB (red-brown) và  làm hạn chế  dạng TAN của  bệnh rỉ.  (Miles et al, pers. comm.).

 

Nghiên cứu bệnh rỉ tại Việt Nam: Ở Việt Nam, bệnh rỉ đã được phát hiện từ thập niên 1940 và hiện nay bệnh đã gây hại trên tất cả các vùng trồng đậu nành từ Bắc vào Nam. Bệnh hại nặng làm năng suất đậu nành giảm tới 40-50% hoặc có trường hợp gần như không cho thu hoạch: Xuân Lộc (Đồng Nai năm 1981); Phúc Thọ (Hà Tây năm 1982). Ở nước ta, bệnh gây hại quanh năm. Ở các tỉnh phía Bắc, bệnh gây hại nặng trong vụ Xuân. Ở Phía Nam bệnh gây hại nặng từ cuối vụ Hè Thu, chuyển sang gây hại nặng trong vụ Thu Đông, đặc biệt tại các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên trong cuối mùa mưa có nhiều sương mù vào tháng 10. (Phạm Văn Biên et al., 1996).

 

Ở Việt Nam, các giống đậu tương hiện trồng trong sản xuất cũng có mức độ nhiễm bệnh nặng nhẹ khác nhau. Đặc biệt giống ĐH 4 bị nhiễm bệnh rỉ rất nặng, có nơi có lúc hoàn toàn không cho thu hoạch. Giống địa phương Nam Vang phổ biến ớ các tỉnh phía Nam cũng ít bị bệnh rỉ sắt. (Phạm Văn Biên và Hà Hữu Tiến, 1996).

 

Tại Việt Nam hai giống đậu tương Cao Bằng U8325 và ĐT 2000 đã được xác định là hai giống kháng bệnh rỉ. Trong khi đó một vài giống nhập nội được giới thiệu kháng bệnh rỉ như PI200492 (Rpp1), PI230970 (Rpp2), and PI462312b (Rpp3) thì lại bị nhiễm rỉ với nòi  bệnh tại địa phương (Binh T. Nguyen, 2005).

Ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn tạo giống đậu tương trên thế giới và trong nước

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của chỉ thị phân tử, một quy trình công nghệ chọn giống mới được ra đời, đó là quy trình chọn giống nhờ chỉ thị phân tử (Marker-Assisted Selection) (MAS).Thông thường, trong quy trình chọn tạo giống truyền thống, người ta đưa nguồn gen mới có tính trạng mong muốn vào 1 giống khác bằng phương pháp hồi giao liên tục qua 5-6 thế hệ, hoặc chọn lọc cá thể trong quần thể phân ly từ thế hệ F2 đến các thế hệ tiếp theo. Mỗi gen chính thường chỉ kháng được với 1 chủng gây bệnh hoặc nòi gây hại nào đó, do vậy nếu quy tụ được vài gen kháng vào một dòng hoặc giống cây trồng nào đó thì sẽ tạo ra được 1 dòng mới kháng được với nhiều chủng gây bệnh hoặc nhiều nòi gây hại. Như vậy muốn tạo ra một giống kháng bền vững đối với dịch hại, người ta phải đưa được vài gen kháng hiệu quả cao vào "genome đích". Bằng phương pháp chọn giống truyền thống, việc đưa gen lặn vào tổ hợp lai, hoặc du nhập cùng một lúc vài gen mong muốn vào "genome đích" (quy tụ nhiều gen vào 1 dòng ưu việt) thường gặp rất nhiều khó khăn hoặc đôi khi không thể thực hiện được (Mohan và ctv, 1997). Còn đối với quy trình MAS, nguồn gen mới nhập được phát hiện gián tiếp thông qua các chỉ thị phân tử liên kết chặt với những gen đó. Như vậy chọn giống nhờ chỉ thị phân tử, khi phối hợp với chọn giống truyền thống, tỏ ra rất hiệu quả, tiết kiệm công sức và rút ngắn đáng kể thời gian tạo giống. Ngoài ra chỉ thị phân tử còn giúp các nhà chọn giống xác định gián tiếp các cặp lai có khả năng cho ưu thế lai.

 

Trên cây đậu tương đã có nhiều nghiên cứu gần đây ứng dụng thành công công nghệ MAS và phân tích quantitative trait loci  (QTL) trong nhiều mục đích khác nhau:

  • Thiết lập bản đồ liên kết gen của đậu tương (Cregan et al., 1999).
  • Tương quan lượng chứa DNA của kích thước lá và kích thước hạt đậu tương (Chung et al., 1998). Nghiên cứu chỉ thị phân tử kích thước hạt đậu tương, chiều cao cây, nốt sần, tính chống đổ, thời gian sinh trưởng, đa dạng di truyền nguồn gen chống chịu...
Trở lại      In      Số lần xem: 1735

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD