Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Trung Tâm NC Khoai tây, Rau và Hoa, trồng rau Hàn Quốc theo VietGap

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  8
 Số lượt truy cập :  26828825
Ngành chè Việt Nam: thách thức và hướng phát triển

Theo Hiệp hội chè Việt Nam: đến năm 2015, cả nước phấn đấu đạt 130.000 ha chè, sản lượng chè búp khô đạt 260.000 tấn. hiện tại, có khoảng 2 triệu lao động vùng miền núi, trung du, vùng sâu vùng xa sống chủ yếu bằng nghề trà. Thế nhưng giá trị xuất khẩu của sản phẩm chè Việt mới chỉ bằng 60% giá bình quân trên thế giới. Phát huy lợi thế, tiềm năng để Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất chè lớn, xuất khẩu nhiều với giá trị cao… nhiều bài toán đặt ra cần tìm lời giải trong hiện tại và tương lai.

Theo Hiệp hội chè Việt Nam: đến năm 2015, cả nước phấn đấu đạt 130.000 ha chè, sản lượng chè búp khô đạt 260.000 tấn. hiện tại, có khoảng 2 triệu lao động vùng miền núi, trung du, vùng sâu vùng xa sống chủ yếu bằng nghề trà. Thế nhưng giá trị xuất khẩu của sản phẩm chè Việt mới chỉ bằng 60% giá bình quân trên thế giới. Phát huy lợi thế, tiềm năng để Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất chè lớn, xuất khẩu nhiều với giá trị cao… nhiều bài toán đặt ra cần tìm lời giải trong hiện tại và tương lai.
 

a
Trên đồi chè Cầu Đất. Ảnh N. Minh

Thực trạng ngành chè

Cây chè xuất hiện ở Việt Nam ước đã ngàn năm, hiện trên các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái vẫn lưu giữ những quần thể chè cổ hàng mấy trăm năm. Cây chè Việt Nam đứng chân chủ yếu tại các tỉnh miền núi, trung du phía bắc. Ở phía nam, cây chè chủ yếu được di thực lên Tây Nguyên từ thời Pháp thuộc và chủ yếu trên cao nguyên Lâm Đồng. Hiện Lâm Đồng có diện tích chè 24.000 ha, chiếm 20% diện tích chè toàn quốc và chiếm 90% toàn vùng phía nam.

Vào những năm 1939 – 1940, người Pháp sản xuất 3.900 tấn chè đen ở Việt Nam và đưa sang bán đấu giá ở Luân Đôn và Hà Lan, đã được các nhà buôn chè thế giới đánh giá rất cao, mặc dù lúc ấy công nghệ sản xuất chè đen chỉ ở mức thủ công và bán cơ giới. Hiện nước ta có khoảng 363.400 hộ trồng chè. Xét về danh chè Việt, lâu nay, thị trường trong và ngoài nước thường nhắc đến, ưa chuộng các sản phẩm chè Tân Cương (Thái Nguyên), Hà Giang, Cao Bằng, Phú Thọ và Cầu Đất, B’Lao (Lâm Đồng)…

Thực trạng trồng và chế biến chè Việt Nam cho thấy đa phần là năng suất lao động thấp, diện tích manh mún nhỏ lẻ, năng suất thu hoạch thấp khiến thu nhập của người trồng chè chưa đảm bảo cuộc sống và khó có cơ hội tái đầu tư. Mặt khác cũng cần nhìn nhận là việc tranh mua tranh bán (cả nước có trên 455 cơ sở chế biến chè) mặc dù chỉ là giá thấp vẫn xảy ra nên còn hiện tượng nhiều vùng sản xuất chè phơi, chè chất lượng thấp, không tuân thủ quy trình quy định đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm… làm ảnh hưởng tới uy tín xuất khẩu.

Trên thực tế, cây chè được coi là cây có hiệu quả kinh tế cao so với các cây trồng khác, đóng vai trò xoá đói giảm nghèo và góp phần quan trọng để làm giàu cho địa phương song hiện tại cây chè Việt chưa khẳng định đúng vị thế so với cây chè các nước có điều kiện kinh tế - xã hội tương tự như: Kenya, Srilanca, Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan… Theo ông Đoàn Trọng Phương – Phó Chủ tịch Hiệp hội chè Việt Nam: Đơn cử như so sánh với Kenya (số liệu năm 2009) cho thấy sự chênh lệch về giá trị xuất khẩu rất cao. Kenya có 110.000 ha chè bằng 85% diện tích chè Việt Nam (129.400 ha chè) nhưng năng suất chè Kenya (đạt 13 tấn) bằng 178%, tổng sản lượng sản phẩm bằng 206,6%, sản lượng chè xuất khẩu bằng 269,3%, giá xuất khẩu bình quân bằng 198,5%, số nhân khẩu sống nhờ ngành chè (3 triệu) bằng 150% so với Việt Nam. Kenya chỉ có 100 cơ sở chế biến chè song kim ngạch xuất khẩu bình quân của 1 cơ sở chế biến gấp 2.411 lần so với 1 cơ sở chế biến của Việt Nam và kim ngạch xuất khẩu bình quân trên 1 ha chè hơn 6 lần 1 ha chè của nước ta. Hàng năm, Kenya xuất khẩu chè thu về gần 1,1 tỷ USD, chiếm gần 23% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản. Sản phẩm chè Việt Nam xuất khẩu chủ yếu chè thô và giá trị cũng kém xa Kenya, Banglades, Indonesia. Ở các quốc gia này, người ta sử dụng thương hiệu ngành là chất lượng sản phẩm và phương thức bán hàng qua sàn đấu giá nên vừa tránh được hiện tượng ép giá, lại vừa phát huy được giá trị mà không cần làm công tác thương hiệu sản phẩm. Hiện ở Việt Nam cũng có nhiều cơ sở chế biến lớn nhưng nếu xét theo toàn ngành thì rất phân tán, đa số nhà máy quy mô nhỏ, số nhà máy có quy mô lớn không nhiều. Bên cạnh đó, hệ thống tổ chức còn yếu kém và chế độ chế tài về sản xuất, chế biến, thương mại còn quá lỏng lẻo, thương mại chè bị phụ thuộc và ép giá bởi khách hàng trung gian nước ngoài. Do có quá nhiều công ty tham gia xuất khẩu chè, trong đó nhiều công ty xuất khẩu tổng hợp không chuyên về chè nên không gắn với cây chè mà chỉ kinh doanh thuần tuý có lãi thì sẵn sàng chào bán các loại chè chất lượng thấp. Đây là một trong những nguyên nhân để các cơ sở sản xuất chè tiếp tục sản xuất chè chất lượng thấp, giá rẻ, làm ảnh hưởng đến uy tín của ngành chè nước ta.

Một vài giải pháp định hướng phát triển

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới, ngành chè Việt Nam có những cơ hội lớn như: thời gian qua, trong nước đã lai tạo một số giống chè mới như PH1, LDP1, LDP2, Bát Tiên, Ngọc Thuý… nên có cơ hội thay thế mới cho toàn bộ vùng nguyên liệu; thị trường trong nước vẫn còn rộng mở cho 4 mặt hàng chè xanh, chè đen, ôlong và chè lá tươi; có cơ hội đầu tư với doanh nghiệp nước ngoài. Đồng thời, theo cam kết WTO, hội nhập sẽ mở rộng thời cơ cho các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam tuy có thách thức bởi sự cạnh tranh khốc liệt nhưng sẽ tạo điều kiện cho người sản xuất chè mở rộng khách hàng, học tập kỹ thuật, công nghệ mới… Tuy nhiên để vươn ra thị trường nước ngoài, ngành chè đang đứng trước những thách thức to lớn. Đó là phần lớn các nước trồng và xuất khẩu chè trên thế giới đều có công nghệ cao, chất lượng về an toàn thực phẩm tốt hơn; thị trường đòi hỏi chất lượng ngày càng cao; nhu cầu về lượng trên thị trường tăng chậm hơn khả năng tăng sản lượng chè của toàn thế giới; doanh nghiệp trong nước chịu sự cạnh tranh mạnh từ công ty nước ngoài; mặt khác sản phẩm chè cũng chịu sự cạnh tranh từ “thức uống” cà phê…
 

Để ngành chè Việt Nam phát triển, xuất khẩu với sản lượng lớn, giá trị kinh tế cao, theo Hiệp hội chè Việt Nam: Thời gian tới, cần thực thi một số giải pháp phát triển trọng yếu nhằm khắc phục những mặt bất cập. Trong các giải pháp ấy, có một giải pháp cơ bản là phải tiến hành quy hoạch vùng trồng chè để nâng cao năng suất, chất lượng và tính an toàn của nguyên liệu chè búp tươi. Theo đó, cần quy hoạch lại vùng chè một cách khoa học, mạnh dạn giảm bớt diện tích chè nếu tại vùng đó diện tích chè hiện quá lớn làm mất sự cân bằng môi trường sinh thái. Không mở rộng diện tích nếu đã đạt những ngưỡng quy định. Dựa vào đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng mà quy hoạch vùng chè ứng với giống chè nhằm phát huy tối đa ưu thế từng vùng, ưu thế từng giống chè; tạo điều kiện sản xuất những sản phẩm đặc sản. Những năm qua, một số dự án quốc tế đang triển khai ở các tỉnh trồng chè cần được tổng kết. Hiện nay, dự án “Nâng cao chất lượng và an toàn nông sản và phát triển khí sinh học QSEAP (2009 – 2015)” có vay vốn từ ADB đang giúp các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, Sơn La, Yên Bái, Lâm Đồng quy hoạch và xây dựng các vùng sản xuất chè an toàn SAZ, tài trợ đầu tư xây dựng hạ tầng, thay thế giống mới, tập huấn VietGAP… cần được đánh giá, nhân rộng để lan toả sang các vùng trồng chè khác…
 

Từ năm 1958, sau khi khánh thành nhà máy chè đen Thanh Ba và nhà máy chè xanh Hạ Hoà (Phú Thọ), Việt Nam đã thực hiện rất nghiêm quy trình hái chè bằng tay và chất lượng nguyên liệu đòi hỏi ở mức cao. Chè tươi loại A, B chiếm tỷ lệ trên 90% tổng nguyên liệu đưa vào sản xuất; đồng thời tuân thủ quy trình công nghệ chế biến nên chè Thanh Ba, Hạ Hoà đạt chất lượng cao. Chè đen Thanh Ba xuất khẩu sang các nước Đông Âu được đánh giá cao so với chè đen Srilanca, Ấn Độ; giá xuất khẩu đạt 2,2 – 2,7 rúp (tương đương 2,2 – 2,7 USD), ngang giá chè Srilanca, Ấn Độ nhập vào Đông Âu. Chè xanh Hạ Hoà cũng khá nổi tiếng, dùng để chế biến các mặt hàng chè cao cấp…  

Chất lượng nguyên liệu búp chè tươi ảnh hưởng tới 80% chất lượng sản phẩm, năng suất cây trồng quyết định tới sản lượng chè thành phẩm. Để phát triển bền vững, sản phẩm chè có chất lượng cao và có sản lượng lớn, ngành chè phải quan tâm tới việc nâng cao chất lượng nguyên liệu búp chè tươi cũng như năng suất cây trồng. Thực tế cho thấy, toàn bộ diện tích trồng chè ở nước ta đang tồn tại một số giống đã thoái hoá có chất lượng thấp như giống trung du (chiếm trên 44%), một tỷ lệ khá cao trồng giống PH1 có năng suất cao nhưng chất lượng sản phẩm thấp. Ngoài ra, vườn chè già trên 20 năm chiếm 25%, năng suất và chất lượng búp đã suy giảm. Thực trạng ấy đòi hỏi phải trồng lại và loại bỏ hoàn toàn những giống chè chất lượng sản phẩm thấp trong vòng 5 năm tới. Chỉ có trồng giống chè tốt trên quy mô lớn mới tạo ra sản phẩm có chất lượng đồng đều, tạo ra những lô hàng lớn, đồng nhất về chất lượng. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại chè thuận lợi và hiệu quả… Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 1053 – 86), chè búp tươi được phân chia thành 4 mức chất lượng A,B,C,D. Để sản xuất ra bất cứ dạng chè sản phẩm nào có chất lượng cao, điều đầu tiên là phải sử dụng nguyên liệu búp chè non tức là loại A và B; loại C, D chỉ sản xuất chè chất lượng thấp.

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới trong thời gian qua, khỏang cách về chất lượng giữa chè Việt Nam và các nước khác ngày một cách xa. Để đảm bảo chất lượng chè búp tươi, ngành chè cần thực hiện những yêu cầu như: kiên quyết loại bỏ cắt chè bằng liềm; phải hái chè bằng tay đúng quy trình kỹ thuật; sử dụng máy hái chè nhưng đảm bảo điều kiện kỹ thuật trồng và chăm sóc theo yêu cầu của vườn chè hái máy. Cần đào tạo đầy đủ cho người trồng chè về kỹ thuật trồng chè, kỹ thuật đốn và tạo tán cây, kỹ thuật sử dụng phân bón, áp dụng GAP, kỹ thuật thu hái bằng máy…

a
Một không gian giới thiệu chè Việt

Một trong những giải pháp cơ bản nữa là phải tuyên truyền đẩy mạnh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho nguyên liệu chè búp tươi bằng cách thực hiện VietGAP/GAP ở tất cả vùng trồng chè trên quy mô toàn quốc.  Hiện có một số vùng trồng chè đã áp dụng quy trình VietGAP, UTZ Certified hoặc Rainforest Alliance nên đã có thể phòng ngừa được những nguy cơ nhiễm chất độc hại vào chè búp tươi. Việc này đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh ngay từ khi chè được thu hái sẽ có ý nghĩa quyết định tới đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho sản phẩm chè.

Trên đây là vài nét về thực trạng và một vài định hướng để phát triển ngành sản xuất chè Việt Nam. Nếu như thực hiện tốt các giải pháp trên mới hy vọng đến năm 2015, ngành chè nước nhà đạt sản lượng chè búp tươi và sản lượng chè khô tăng lên gần 1,5 lần, giá bán chè tăng 1,5 lần và tổng kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 2,2 lần. Qua đó, ngành chè góp phần thiết thực vào công cuộc giảm nghèo bền vững, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà.

 

Bình Nguyên - Báo Lâm Đồng

Trở lại      In      Số lần xem: 8083

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD