Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Triển vọng giống đậu nành HLĐN910 trên đất trồng tiêu

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  13
 Số lượt truy cập :  22144070
Phân bón cải tạo đất trong điều kiện khô hạn

Cung cấp nước và chất dinh dưỡng cho cây trồng là quá trình liên tục, từ khi trồng đến khi thu hoạch. Thực vật tổng hợp chất dinh dưỡng từ các nguyên tố tự nhiên trong đất và phân bón, lấy nước từ các lớp trên cùng, nơi nước có thể bị bốc hơi khi khô hạn. Tuy nhiên, theo sáng chế mới về phân bón của tác giả người Mỹ - Davison Bruce H., loại phân này có thể cải thiện khả năng lấy nước cũng như các chất dinh dưỡng cho cây ở các lớp đất sâu hơn, nhất là trong điều kiện hạn hán.

Cung cấp nước và chất dinh dưỡng cho cây trồng là quá trình liên tục, từ khi trồng đến khi thu hoạch. Thực vật tổng hợp chất dinh dưỡng từ các nguyên tố tự nhiên trong đất và phân bón, lấy nước từ các lớp trên cùng, nơi nước có thể bị bốc hơi khi khô hạn. Tuy nhiên, theo sáng chế mới về phân bón của tác giả người Mỹ - Davison Bruce H., loại phân này có thể cải thiện khả năng lấy nước cũng như các chất dinh dưỡng cho cây ở các lớp đất sâu hơn, nhất là trong điều kiện hạn hán.

 

Thành phần của chế phẩm bao gồm:

 

Nitơ: tồn tại trong các hợp chất như urê, aqua ammonium, ammonium nitrate, ammonium phosphate, ammonium sulfate, urea phosphate, ammonium molybdate. Nồng độ nitơ nguyên tố biến động trong khoảng từ 0,1-20% hay 0,5-15% hoặc 1-10% tính theo trọng lượng của 100 pound (45,36kg) phân bón.

 

Phốt pho: ở dạng P2O5, chứa trong các hợp chất như orthophosphate, kali photphat, amoni photphat, axit photpho và muối, axit photphoric cấp thực phẩm. Nồng độ phốt pho chiếm khoảng từ 0,1-40%, 10-30% hoặc 15-25% tính theo trong lượng của 100 pound P2O5. Trọng lượng phốt pho có thể được chuyển đổi thành P2O5 bằng cách nhân nồng độ của phốt pho nguyên tố với 2,29.

 

Kali: dưới dạng K2O chứa trong các hợp chất như kali clorua, kali sunfat, kali cacbonat, kali nitrat, kali hydroxit, kali photphat. Nồng độ kali chiếm khoảng từ 0,1-30%, 1-25% hoặc 5-20% tính theo 100 pound K2O. Trọng lượng nguyên tố của kali có thể được chuyển đổi thành K2O bằng cách nhân nồng độ kali nguyên tố với 1,2.

 

Tỷ lệ các nguyên tố nitơ: phốt pho: kali có thể chọn theo các giá trị cho trong bảng để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu:

 

 

Nitơ

 

Phốt pho

 

Kali

 

3

 

18

 

18

 

6

 

10

 

4

 

6

 

24

 

6

 

7

 

5

 

5

 

7

 

17

 

7

 

9

 

13

 

7

 

18

 

6

 

12

 

19

 

8

 

10

 

20

 

3

 

3

 

25

 

4

 

4

 

28

 

4

 

4

 

32

 

10

 

10

 

 

Trong các hợp chất chứa nitơ, phốt pho, kali có thể chứa các kim loại nặng như asen, cadmium, chì và thủy ngân và nồng độ của các kim loại này cho phép dưới 1ppm.

 

Vi chất dinh dưỡng: gồm kẽm, đồng, mangan, sắt, boron, canxi, magiê, lưu huỳnh. Các vi chất dinh dưỡng này có thể chưa chelat hóa (tạo phức chất vòng giữa các hợp chất hữu cơ dẫn xuất từ amino polycacboxylic axit với các ion kim loại), chelate hóa một phần hoặc toàn phần. Cụ thể:

 

Kẽm có thể chứa trong các hợp chất kẽm-amoniac, kẽm oxit, kẽm sunfat, chelate kẽm. Nồng độ nguyên tố kẽm từ 0,03-1% theo trọng lượng.

 

Đồng có thể chứa trong các hợp chất đồng chelate, đồng sunfat, oxit cupric, oxit cuppy. Nồng độ nguyên tố đồng trong các hợp chất có thể từ 0,035-0,07% theo trọng lượng.

 

Mangan có thể chứa trong các hợp chất mangan carbonate, mangan chelate, mangan clorua, mangan dioxide, oxit mangan, mangan sulfat. Nồng độ nguyên tố mangan trong các hợp chất có thể từ 0,01-1% theo trọng lượng.

 

Sắt có thể chứa trong các hợp chất FeDTPA, FeEDTA và FeEDDHA, sắt ammonium sulfate, sắt sulfate. Nồng độ nguyên tố sắt trong các hợp chất có thể từ 0,1-1% theo trọng lượng.

 

Boron có thể chứa trong các hợp chất natri borat, natri pentabat, borax, axit boric, natri tetraborate. Nồng độ nguyên tố boron trong các hợp chất có thể từ 0,1-1% theo trọng lượng.

 

Canxi có thể chứa trong các hợp chất canxi nitrat, vôi calcitic, vôi dolomitic, thạch cao, supe lân thông thường, bùn vôi papermill, vôi tôi, ba supe lân. Nồng độ nguyên tố canxi trong các hợp chất có thể từ 0,1-1% theo trọng lượng.

 

Magiê có thể chứa trong các hợp chất magiê sunfat, magiê nitrat, vôi dolomitic, muối Epsom, kieserite, kali magiê sunfat. Nồng độ nguyên tố magiê trong các hợp chất có thể từ 0,1-1% theo trọng lượng.

 

Lưu huỳnh có thể chứa trong các hợp chất ammonium sulfate, ammonium thiosulfate, magiê sulfate, supe lân thông thường, kali magiê sulfat, kali sulfat, canxi sunfat. Nồng độ nguyên tố lưu huỳnh trong các hợp chất có thể từ 0,1-1% theo trọng lượng.

 

Chất điều hòa sinh trưởng thực vật: gồm chất phụ trợ, cytokinin, ethylene, gibberellin, axit 1-maphthleneacetic, axit indole-3-butyric, axit indole-3-acetic. Nồng độ chất điều hòa sinh trưởng thực vật khoảng từ 1-2 ppm theo trọng lượng.

 

Các cytokinin gồm: kinetin, zeatin, 6-benzylaminopurine, diphenylurea, thidiazuron

 

Các gibberellin gồm: gibberellin dihydroxyl hóa như gibberellic acid (GA3) và gibberellin GA1 thông qua Gan

 

Các jasmonate gồm: axit jasmonic và methyl jasmonate và polyamines

 

Các nguyên tố bổ sung: gồm vitamin, axit amin, carbohydrate, polysacarit, vi sinh vật có lợi.

 

Các vitamin gồm: niacin, d-biotin, riboflavin, axit ascorbic, thamine mononitrate, thiamine hygrochloride, pyridoxine hydrochloride, axit folic và các dẫn xuất.

 

Các axit amin gồm: alanine, arginine, aspartic acid, betaines, choline, cysteine, glutamic acid, glycine, histidine, isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, proline, serine, threonine, tryptophan, tyrosine, valine và các dẫn xuất.

 

Carbohydrate và polysacarit gồm: axit alginic, mannitol, laminarin, axit succinic, sorbitol, fructose, sucrose, dextrose, lactose, và các dẫn xuất.

 

Sản phẩm phân bón có độ pH khoảng từ 5,5-7,5, chỉ số muối khoảng từ 30–60, được sản xuất dưới nhiều dạng, tùy theo mục đích sử dụng (dạng chất lỏng đặc, gel, bột, hạt, viên, khối). Tỷ lệ sử dụng chế phẩm khoảng từ 3-15 gallon (3,785 lít) mỗi mẫu đất. Khi sử dụng có thể pha loãng với nước để phun, phun sương, tạo bọt, hoặc rắc, phủ quanh gốc cây, trên thân cây hoặc dùng để phun lên hạt giống trong khi gieo. dùng chế phẩm sẽ giúp bộ rễ phát triển mạnh (lớn hơn 200% so với các cây trưởng thành chưa được xử lý), do đó tiếp cận được nhiều nước và chất dinh dưỡng, giúp cây chịu hạn tốt hơn.

 

Theo tác giả Davison Bruce H., phân bón này phù hợp với cả cây lương thực và các loại cây khác, ví dụ như:

 

Các loại ngũ cốc (ngô, lúa mì, lúa mạch, lúa miến, kê, yến mạch,…).

 

Các loại cây họ đậu (đậu nành, đậu Hà Lan,…).

 

Các loại rau (như cải xoăn, rau bina, rau diếp, cải xoong, tỏi tây, cải Brussels,…).

 

Các loại củ (khoai lang, khoai tây, củ cải,…).

 

Các loại trái cây và quả hạch (dâu tây, dừa, quả óc chó, quả nam việt quất, quả mâm xôi, táo, lê, dứa, cà tím, lựu, kiwi, nho,…).

 

Các loại cây có múi (cam, chanh, chanh, bưởi,...).

 

Cũng như các loại cây lấy sợi (bông, cây gai dầu, và cây lanh).

 

Chế phẩm phân bón chứa các thành phần trên ngoài có tác dụng cho cây trồng còn có thể cải tạo đất.

 

CCTT - CESTC.

Trở lại      In      Số lần xem: 203

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD