Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Nông nghiệp 4.0 – Cơ hội cho nông nghiệp Việt Nam

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  15
 Số lượt truy cập :  19609861
Tuần tin khoa học 576 (02-08/04/2018)

Sự thể hiện mạnh mẽ gen slmapk1 làm tăng cường tính chống chịu khô hạn của cây cà chua

Stress do khô hạn là một trong những yếu tố môi trường gây thiệt hại nặng nề cho cây trồng. Protein MAPK (mitogen-activated protein kinase) rất quan trọng trong những chu trình truyền tín hiệu đối với stress sinh học và stress phi sinh học. Liu Wang và đồng nghiệp thuộc China Agricultural University, đã nghiên cứu gen SlMAPK1 và vai trò của nó trong hệ gen cây cà chua.

Sự thể hiện mạnh mẽ gen slmapk1 làm tăng cường tính chống chịu khô hạn của cây cà chua

Stress do khô hạn là một trong những yếu tố môi trường gây thiệt hại nặng nề cho cây trồng. Protein MAPK (mitogen-activated protein kinase) rất quan trọng trong những chu trình truyền tín hiệu đối với stress sinh học và stress phi sinh học. Liu Wang và đồng nghiệp thuộc China Agricultural University, đã nghiên cứu gen SlMAPK1 và vai trò của nó trong hệ gen cây cà chua.

 

Họ đã phát triển cây cà chua transgenic thể hiện mạnh mẽ gen SlMAPK1 để nghiên cứu chức năng của gen này khi cây bị khô hạn. So sánh với cây nguyên thủy (wildtype), các dòng cà chua thể hiện mạnh mẽ gen SlMAPK1 biểu thị sự tổn thương ít hơn ở màng tế bào, ít bị cháy khô hơn. Cây cà chua transgenic còn tích tụ ít hơn hàm lượng hydrogen peroxide, có hoạt tính cao hơn của  các enzyme đóng vai trò antioxidant, và thể hiện nhiều hơn các gen có liên quan đến chống chịu stress. Kết quả cho thấy protein SlMAPK1 có vai trò tích cực giúp cây phản ứng lại với stress khô hạn bằng cách tăng cường hoạt động các enzyme có chức năng antioxidant, và điều khiển sự thể hiện của những gen có liên quan đến stress. Xem Plant Cell, Tissue and Organ Culture.

Gen phản ứng với tích tụ cadmium trong hạt thóc

Hàm lượng tích lũy cadmium (Cd) dư thừa trong hạt thóc (Oryza sativa) là một rủi ro rất nghiêm trọng cho sức khỏe con người. Những phân tử transporters có trong lóng thân cây lúa phân phối những nguyên tố khoáng, kể cả chất độc, đến các mô tế bào của cây lúa. Tuy nhiên, cơ chế tích tụ Cd trong hạt gạo chưa được biết nhiều. Nhóm nghiên cứu của Xiaohua Hao thuộc Hunan Normal University, Trung Quốc đã xác định được một gen đóng vai trò transporter biểu hiện ở lóng thân, đó là gen OsCCX2, gen này có thể là gen đích kiểm soát hàm lượng tích tụ của Cd. Thực hiện “knockout” gen OsCCX2 đã gây ra sự suy giảm rất lớn hàm lượng Cd trong hạt thóc. Phân tích sâu hơn cho thấy sự xáo trộn này của gen dẫn đến sự vận chuyển Cd từ rễ đến chồi thân giảm. Hơn nữa, sự phân bố Cd cũng bị xáo trộn trong lóng thân và lá lúa. Gen OsCCX2 được xác định nằm ở màng plasma, nó chủ yếu thể hiện trong mỗ gỗ tại lóng thân. Gen OsCCX2 có thể có chức năng như phân tử transporter để vận chuyển nguyên tố khoáng ra ngoài, phản ứng với sự chuyển vào hàm lượng Cd trong mạch gỗ. Nghiên cứu này còn cho thấy phân tử vận chuyển Cd mới có trong sự kiện tích tụ Cd ở hạt thóc. Xem Frontiers in Plant Science.

Brassinosteroids điều tiết sự hình thánh vách tế bào thứ cấp trong cây poplar

Brassinosteroids (BRs) có vai trò quan trọng trong tăng trưởng và phát triển của thực vật. Tuy nhiên, người ta biết rất ít về ảnh hưởng của BRs đối với sinh tổng hợp thức cấp vách tế bào của cây lấy gỗ. Nhóm nghiên cứu của Yun Shen thuộc Southwest University, Trung Quốcđã nghiên cứu gen PtoDWF4  có liên quan đến sinh tổng hợp brassinosteriod từ cây poplar gỗ trắng của Trung Quốc (Populus tomentosa). Họ đã áp dụng hệ thống CRISPR-Cas9, để knock-out gen PtoDWF4, làm giảm đáng kể sinh khối khi cây phát triển. Như vậy, sự thể hiện mạnh mẽ gen PtoDWF4 đã thúc đẩy mức độ tăng trưởng và năng suất sinh khối, và làm gia tăngdiện tích và số lớp tế bào của mạch gỗ. Cây biểu hiện mạnh mẽ gen này còn gia tăng đáng kể về chiều cao và đường kính thân. Nghiên cứu còn cho thấy gen PtoDWF4 điều tiết theo kiểu UP để biểu hiện gen có liên quan đến hình thành vách tế bào thứ cấp SCW (secondary cell wall). Kết quả ghi nhận PtoDWF4 có vai trò tích cực trong cải tiến mức tăng trưởng và gia tăng sinh khối của cây poplar. Xem Tree Physiology.

Kỹ thuật crispr's có khả năng kiểm soát được ruồi đục trái ở queensland

Ruồi đục trái cây ở Queensland (Bactrocera tryoni) (hình) là một sâu hại - ký sinh đa ký chủ tại Australia gây thiệt hại nghiêm trọng cho cây ăn trái và rau. Kiểm soát bằng thuốc hóa học và đấu tranh sinh học là chiến lược được phát triển, ví dụ sử dụng kỹ thuật làm côn trùng vô sinh SIT (sterile insect technique), là biện pháp hiện khá phổ biến để kiểm soát quần thể ruồi và ngăn ngừa sự bộc phát trên diện rộng. Người ta vừa công bố bản thảo của nội dung giải trình tự hệ gen ruồi đục trái B. tryoni (draft genome); kết quả này cung cấp cho chúng ta cơ hội mới để xác định những gen ứng cử viên để cải biên hệ gen ruồi nhằm phát triển các chủng nòi theo chiến lược làm côn trùng vô sinh. Để xem xét khả năng ấy, Amanda Choo và cộng sự viên của cô đã áp dụng hệ thống chỉnh sửa gen CRISPR-Cas nhằm tạo những đột biến có chủ đích ruồi đục trái Queensland. Họ đã thành công trong đột biến gen mã hóa “ATP‐dependent binding cassette transporter”, gen white, làm cho ruồi đục trái có kiểu hình mắt trắng. Nghiên cứu đã chứng minh rằng khả năng của CRISPR trong phát triển các chủng nòi di truyền (genetic strains) mà ở đó, chúng được người ta sử dụng trong chiến lược SIT (làm côn trùng vô sinh). Xem Journal of Applied Entomology.

GEN nhiễm mặn của cây lúa

Độ hóa già sớm của cây lúa có thể gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất lúa, những hiểu biết về sự điều tiết có tính chất phân tử như vậy vẫn còn quá mù mờ. Đột biến gen bbs1 (bilateral blade senescence 1), điều khiển lá hóa già sớm và nhiễm mặn, đã được phân lập từ quần thể lúa đột biến bằng hóa chất ethylmethane sulfonate (EMS). Nhóm nghiên cứu của Dong-Dong Zeng thuộc Zhejiang University, Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu đột biến gen này để xác định chức năng của gen khi đột biến. Họ tìm thấy một chèn đoạn của gen OsBBS1 đã gây ra đột biến. Gen này mã hóa protein “receptor-like cytoplasmic kinase”. Muốn xác minh lại kết quả cho rõ hơn, người ta sử dụng kỹ thuật CRISPR-Cas9OsBBS1 để knockout gen ấy. Thể đột biến được tạo ra thể hiện tính trạng hóa già của lá giống nhau và sự nhiễm mặn giống với đột biến bbs1 . Gen OsBBS1 thể hiện trong tất cả các mô tế bào và sự thể hiện của nó có thể được kích thích mạnh mẽ bởi mặn. Kết quả cho thấy OsBBS1 tham gia vào kiểu hình độ hóa già lá và đáp ứng với stress mặn của cây lúa. Xem Plant Cell Reports.

Công cụ CRISPR mới hoàn trả lại sự mất cân bằng của protein trong tế bào bệnh nhân mất trí nhớ

CasRx (hình đỏ cam) hướng đích đến RNA trong nhân của tế bào người (màu xám)

 

Các chuyên gia nghiên cứu và ứng dụng CRISPR tại Salk Institute for Biological Sciences, Hoa Kỳ cho biết rằng: họ đã phát triển thành công một công cụ mới có tên là CasRx; công cụ này  không chỉ đánh dấu đúng phân tử DNA, mà còn RNA, sau đó người ta sử dụng chúng để làm chính xác sự mất cân bằng về protein trong tế bào của bệnh nhân mắc hội chứng “dementia” (mất trí nhớ), duy trì protein này ở mức độ khỏe mạnh. Công trình khoa học này đã được công bố trên tạp chí Cell . Hệ thống CRISPR đã và đang được sử dụng như một công cụ đầy tiềm năng trong chỉnh sửa gen (phân tử DNA được xác định mục tiêu chắc chắn). Nhóm nghiên cứu của Salk xem xét hệ gen của các vi khuẩn có khả năng nhắm đích đến là RNA, điều này có thể được người ta thiết kế để xác định các vấn đề nào dính với phân tử RNA rồi dsau đó là proteins. Họ đã tìm thấy một họ “CRISPR enzymes” đánh dấu đích đến RNA, đặt tên cho nó là Cas13d. Tương tự với họ Cas9, họ Cas13d enzymes có từ các nguồn vi khuẩn với các hoạt tính khác nhau. Họ tìm được “version” tốt nhất để thể được vận dụng trên tế bào người, từ  Ruminococcus flavefaciens XPD3002. Do đó, công cụ này có tên là CasRx. Bệnh nhân mất trí nhớ có một sự mất cân bằng của hai versions của protein có tên là “tau”. Nhóm nghiên cứu ký hiệu nó là CasRx để đánh dấu đích đến của trình tự RNA đối với version của protein “tau”. CasRx đã được chứng minh đạt hiệu qua 80% trong tái lập lại sự cân bằng của protein “tau” đến mức độ khỏe hoàn toàn. Xem Salk.

THÔNG BÁO

Khóa hội thảo đào tạo “cOMRES” cho các nhà khoa học

Nghiên cứu làm sao để thông tin khoa học đến các nhà làm chính sách, chính trị gia, nhà hoạch định, nhà công nghiệp, nhà báo, v.v.. là nhiệm vụ rất khó đối với nhà khoa học. MABIC (Malaysian Biotechnology Information Centre) tổ chức một hội thảo đào tạo nhằm tăng cường mức độ hiểu biết của đại chúng với hình thức truyền thông dễ hiểu kết quả R&D. Liên hệ với info@bic.org.my (TRAINING WORKSHOP ON COMRES FOR SCIENTISTS).

 

Trở lại      In      Số lần xem: 284

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD