Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Nông nghiệp 4.0 – Cơ hội cho nông nghiệp Việt Nam

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  15
 Số lượt truy cập :  19925567
Tuần tin khoa học 578 (16-22/04/2018)

Yếu tố phiên mã của cây cà chua ảnh hưởng đến sự hình thành chồi mầm

Nhiều nghiên cứu cho thấy yếu tố phiên mã (TF) là GRAS đóng vai trò như những phân tử “regulators” trong tăng trưởng và phát triển của thực vật; cũng như phản ứng với stress sinh học và phi sinh học. Trong khi nhiều protein GRAS đã được xác định, chỉ còn một ít được nghiên cứu trong cây cà chua (Solanum lycopersicum). Nhóm nghiên cứu của Shengen Zhou thuộc Đại Học Chongqing đã nghiên cứu yếu tố phiên mã mới GRAS được mã hóa từ gen SlGRAS26, người ta hi vọng gen thể hiện vai trò của nó trong cây cà chua.

Sự thể hiện mạnh mẽ gen OsTPS19 tăng cường tính kháng bệnh đạo ôn của cây lúa

Bệnh đạo ôn lúa do vi nấm Magnaporthe oryzae gây ra, được xem là đối tượng gây hại nghiêm trọng nhất cho sản xuất lúa. Những nghiên cứu trước đây cho thấy, gen mã hóa “terpene synthase”, gen OsTPS19, là một ứng cử viên của gen giúp cây tự vệ. Nhóm nghiên cứu của Xujun Chen thuộc China Agricultural University đã tiến hành nghiên cứu gen OsTPS19, gen điều tiết theo kiểu UP khi có sự xâm nhiễm của nấm M. oryzae. Họ thấy rằng sự thể hiện mạnh mẽ của gen OsTPS19 trong cây lúa, làm tăng tính kháng bệnh đạo ôn. Mặt khác, các dòng lúa bị xử lý “OsTPS19 RNAi” làm câm gen đích, chúng bị nhiễm nặng bệnh đạo ôn. Phân tích còn cho thấy một phân tử “monoterpene (S)-limonene” gia tăng trong cây lúa thể hiện mạnh mẽ gen OsTPS19; ngược lại nó giảm trong dòng lúa “RNAi”. Như vậy, chức năng của gen OsTPS19 là mã hóa enzyme “(S)-limonene synthase” trong cây lúa; giúp cây lúa tự vệ chống lại sự xâm nhiễm của M. oryzae. Xem Plant Biotechnology Journal.

Yếu tố phiên mã của cây cà chua ảnh hưởng đến sự hình thành chồi mầm

Nhiều nghiên cứu cho thấy yếu tố phiên mã (TF) là GRAS đóng vai trò như những phân tử “regulators” trong tăng trưởng và phát triển của thực vật; cũng như phản ứng với stress sinh học và phi sinh học. Trong khi nhiều protein GRAS đã được xác định, chỉ còn một ít được nghiên cứu trong cây cà chua (Solanum lycopersicum). Nhóm nghiên cứu của Shengen Zhou thuộc Đại Học Chongqing đã nghiên cứu yếu tố phiên mã mới GRAS được mã hóa từ gen SlGRAS26, người ta hi vọng gen thể hiện vai trò của nó trong cây cà chua. Sự điều tiết theo kiểu DOWN của gen SlGRAS26 được ghi nhận trong cây cà chua transgenic với chiều cao thấp và đâm nhiều nhánh thân ngang, thúc đẩy cà chua trổ nhiều bông, và giảm số lông tơ trên thân (trichome). Kết quả ghi nhận có sự điều tiết theo kiểu DOWN của gen SlGRAS26 làm thay đổi sự tăng trưởng sinh thực cây cà chua, vì ức chế gen tham gia sinh tổng hợp gibberellin (GA) và làm kích hoạt những gen có vi trò là bất hoạt GA, như vậy hàm lượng GA nội sinh giảm xuống trong cây cà chua transgenic. Kết quả cho thấy gen SlGRAS26 có vai trò trong hình thành sinh mô tạo chồi nhánh và sinh mô tạo nụ hoa của cây cà chua. Xem Plant Science.

Xét nghiệm “DNA-Free CRISPR-Editing” trong cây khoai tây

Trong những công cụ chỉnh sửa hệ gen, ví dụ như hệ thống CRISPR, có nhiều cái lợi nếu không có những phân tử DNA ngoại lai (foreign DNA) dung hợp vào trong hệ gen sinh vật nghiên cứu. Mariette Andersson và các đông nghiệp của Cô thuộc Đại Học “Swedish University of Agricultural Sciences”, Thụy Điển, đã sử dụng kỹ thuật chỉnh sửa hệ gen không có DNA (DNA‐free genome editing method) bằng hệ thống “CRISPR-Cas9 ribonucleoproteins” (viết tắt là RNP) để đạt đích đến là gen GBSS viết tắt từ chữ granule bound starch synthase gene trong tế bào trần của cây khoa tây (Solanum tuberosum protoplasts).

 

Phương pháp RNP đã được thực hiện để xác định tế bào trần phát triển, qui trình tái sinh và vận chuyển. Protein Cas9 được thiết kế với phân tử RNA thông qua tổng hợp nhân tạo hoặc phiên mã in vitro. RNP trong qui trình tổng hợp nhân tạo sản sinh ra phân tử RNA, kích thích đột biến với tần suất 9%, tạo ra các dòng đột biến không có transgene. Tần suất đột biến 25% của tất cả chồi mầm tái sinh được người ta tìm thấy khi RNP trong qui trình phiên mã in vitro sản sinh ra phân tử RNA. Tuy nhiên, chồi thân được xác định là đột biến không mong muốn khi có sự chèn vào của DNA như vậy. Các phân tử chèn vào có nguồn gốc từ cả DNA nội sinh và DNA ngoại sinh khi thực hiện phiên mã in vitro và khi thao tác DNA trên nhiễm sắc thể khoai tây.

 

Trong những chồi mầm tái sinh từ thí nghiệm RNP, các đột biến trong tất cả bốn alen GBSS tạo ra kết quả knockout hoàn toàn chức năng của enzyme. Xem Physiologia Plantarum.

CRISPR-Cas9 giúp người ta xác định các gen có chức năng tạo kiến trúc cây thuốc lá

Strigolactones (SLs) là kích thích tố điều tiết kiến trúc cây (plant architecture). Gen CCD (Carotenoid cleavage dioxygenase) có trong sinh tổng hợp các SLs như vậy; đã được người ta định tính trong nhiều loài thực vật. Tuy nhiên, chức năng của các gen CCD trong cây thuốc lá vẫn chưa được biết nhiều. Nhóm nghiên cứu của Junping Gao thuộc Southwest University, Trung Quốc đã nghiên cứu hai gen CCD, đó là NtCCD8ANtCCD8B, trong cây thuốc lá (Nicotiana tabacum). Hai gen NtCCD8 là đồng dạng nhau trong cây cà chua (Solanum lycopersicum); đó là gen SlCCD8 (carotenoid cleavage dioxygenase 8). Gen NtCCD8ANtCCD8B được xác địnhthể hiện đầu tiên trong rễ cây thuốc lá, nhưng thể hiện ở mức độ thấp có trong tất cả mô thực vật. Sự thể hiện của các gen ấy đã làm gia tăng đáng kể phản ứng của cây với sự thiếu phosphate. Người ta sử dụng hệ thống CRISPR-Cas9, đột biến được kích thích trong gen cây thuốc lá NtCCD8ANtCCD8B phát triển ra dòng đột biến ntccd8. Dòng đột biến ntccd8 gia tăng số nhánh thân, làm giảm chiếu cao cây, gia tăng số lá và số lóng thân, giảm sinh khối so với cây nghuyên thủy (wild types). Dòng đột biến này còn biểu hiện rễ sơ cấp ngắn hơn và đâm nhiều rễ ngang. Như vậy, gen NtCCD8 có trong kiến trúc hình dạng cây thuốc lá. Xem International Journal of Molecular Sciences.

CRISPR đột biến knock out gen FAE1 cải tiến được phẩm chất dầu cây “trà hoa nữ” (Camelina)

Camelina (Camelina sativa) là cây trồng có hàm lượng dầu hạt giá rẻ. Tuy nhiên, người ta cần tiếp cận với nguồn nguyên liệu dầu camelina không chỉ có giá rẻ mà còn nhu cầu đặc điểm acid béo có chuỗi phân tử dài (very long-chain fatty acids: VLCFAs). Nhóm nghiên cứu của Mehmet E.Ozseyhan thuộc Montana State University, Hoa Kỳ, đã nghiên cứu làm giảm VLCFAs bằng cách làm bất hoạt gen FAE1 (Fatty Acid Elongase1) trong cây camelina.

 

Cây Trà Hoa Nữ thuộc loài thực vật “allohexaploid” (dị lục bội thể) có ba alen thuộc gen FAE1. Các dòng đột biến “knockout” được phát triển thành công trong một thề hệ nhờ xác định đích đến cùng một lúc ba alen của gen FAE1 bằng công nghệ CRISPR-Cas9. Chuỗi dài acid béo này (VLCFAs) giảm hơn 2% hàm lượng acid béo tổng số so với dòng nguyên thủy hàm lượng tăng hơn 22%.Dòng đột biến fae1 biểu hiện khác biệt so với dòng nguyên thủy về sinh lý hạt trà và sinh lý tăng trưởng. Người ta chứng minh rằng: công nghệ CRISPR-Cas9 có khả năng ứng dụng trong trường hợp cây chè camelina để có nhiều tính trạng mong muốn về hàm lượng dầu hạt trà. Nghiên cứu còn cho thấy việc tiếp cận với phương pháp chỉnh sửa gen giúp làm tăng hàm lượng oleic acid hoặc α-linolenic acid trong dầu hạt cây camelina, chứng minh một phương tiện hữu dụng cho công nghiệp sản xuất dầu lương thực và dầu công nghiệp cho gnười tiêu dùng. Xem Plant Physiology and Biochemistry.

Giống lúa kháng bệnh virus “Tungro” thông qua CRISPR-Cas9

Bệnh virus tungro trên cây lúa do rầy xanh đuôi đen truyền bệnh có thuật ngữ quốc tế là RTD (rice tungro disease) khá nghiêm trọng tại Philippines và một số quốc gia trồng lúa khác. RTD do virus có tên khoa học là Rice tungro spherical virus (RTSV) và Rice tungro bacilliform virus (RTBV). Tính kháng bệnh RTSV do gen lặn điều khiển eIF4G (translation initiation factor 4 gamma gene). Người ta muốn phát triển nguồn gen kháng mới đối với RTD, nhóm nghiên cứu của Anca Macovei thuộc International Rice Research Institute, Philippines gây đột biến gen eIF4G bằng hệ thống CRISPR-Cas9 trong giống lúa IR64 nhiễm với RTSV. Mức độ đột biến đạt từ 36.0 đến 86.6% và những đột biến này di truyền thành công đến các thế hệ con sau đó. Trong những alen đột biến eIF4G được khả sát, chỉ có đột biến mã hóa gốc SVLFPNLAGKS biểu hiện tính kháng bệnh tungro. Nhóm nghiên cứu đã phát triển các dòng kháng với RTSV và tăng năng suất lúa trong điều kiện nghiên cứu ở nhà lưới. Họ đã phát triển các dòng lúa này không có chứa trình tự Cas9. Những cây lúa kháng RTSV phát triển từ hệ thống CRISPR có alen mới eIF4G để phát triển các giống lúa có tính kháng cao hơn. Xem Plant Biotechnology Journal.

THÔNG BÁO

Hội nghị công nghệ sinh học quốc tế lần thứ 18 (IBS 2018)

Hội nghị công nghệ sinh học quốc tế lần thứ 18 (18th International Biotechnology Symposium and Exhibition) được tổ chức tại Palais des congrès (Montréal's Convention Centre), 1001 Place Jean-Paul-Riopelle, Montréal, Québec, Canada; vào ngày 12-17 tháng Tám năm 2018

Xem IBS 2018 website.

Asian Short Course on Agribiotechnology, Biosafety Regulations and Communication

Khóa đào tạo ngắn hạn về CNSH nông nghiệp, Luật lệ An toàn sinh học và Thông tin sẽ diễn ra vào ngày 13-17 tháng Tám năm 2018, tại Monash University Malaysia; Jalan Lagoon Selatan, Bandar Sunway, 47500 Selangor, Malaysia

Xem https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLSew3x691qlSLZux7H0KAdeAbHbUN3PMAPo11UJLXYNyZpxAqA/viewform

Trở lại      In      Số lần xem: 204

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD