Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Trung Tâm NC Khoai tây, Rau và Hoa, trồng rau Hàn Quốc theo VietGap

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  15
 Số lượt truy cập :  26036725
Hai nhánh miễn dịch thực vật được kết nối mật thiết hơn những gì con người cảm nhận trước đây
Thứ hai, 31-05-2021 | 08:07:13

TS. Kenichi Tsuda, nhà Sinh học thực vật, tại Trường Đại học Nông nghiệp Huazhong, Trung Quốc. Ảnh: Kenichi Tsuda.

 

Khả năng cảm ứng bảo vệ của thực vật bắt đầu bằng việc nhận biết các vi sinh vật, dẫn đến việc kích hoạt một tập hợp các phản ứng tế bào phức tạp. Có nhiều cách để nhận ra vi khuẩn và việc nhận biết các đặc điểm của vi sinh vật bằng các thụ thể nhận dạng mẫu (PRR pattern recognition receptors) bên ngoài tế bào từ lâu được cho là có tác dụng kích hoạt tuyến phòng thủ đầu tiên: Miễn dịch được kích hoạt hoặc PTI (Pattern Triggered Immunity). Để tránh những phản ứng phòng vệ này, các loại vi sinh vật đã phát triển khả năng cung cấp các phân tử tác động đến tế bào thực vật, trực tiếp vào tế bào chất hoặc vào khu vực ngay bên ngoài tế bào, nơi chúng được đưa vào tế bào chất. Phản ứng với các phân tử hiệu ứng này được cho là được thực hiện độc quyền bởi vùng liên kết nucleotide nội bào với các thụ thể lặp lại giàu leucine (NLR) tạo ra khả năng miễn dịch được kích hoạt, hoặc ETI (leucine-rich repeat receptors). Hai con đường tín hiệu này thường được coi là hai nhánh khác nhau của phản ứng miễn dịch thực vật, mỗi con đường đóng góp khác nhau vào khả năng miễn dịch tổng thể. Tuy nhiên, sự phân đôi giữa PTI và ETI đã trở nên mờ nhạt do những khám phá gần đây cho thấy rằng các phản ứng đối với tín hiệu thụ thể PRR và tín hiệu NLR chồng chéo lên nhau.

 

Kenichi Tsuda, nhà sinh vật học thực vật tại Đại học Nông nghiệp Huazhong, Trung Quốc, giải thích: “Hai nhánh miễn dịch trước đây được coi là tách biệt nhưng ngày càng nhiều bằng chứng trong những năm gần đây cho thấy chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau. Đã đến lúc phải suy nghĩ lại mô hình hiện tại".

 

Trong hơn một năm rưỡi qua, những phát hiện thú vị đã cho thấy một bức tranh phức tạp và nhiều sắc thái hơn về sự bảo vệ của thực vật. Tsuda và đồng nghiệp You Lu, thuộc Đại học Minnesota, Hoa Kỳ, đã hợp tác trong một bài tổng quan được công bố gần đây trên tạp chí MPMI. Mục tiêu của họ là tích hợp những ý tưởng mới này với mô hình lâu đời của các con đường ETI và PTI riêng biệt thành một mô hình mới hơn, nhiều sắc thái hơn, trong đó các con đường tồn tại, nhưng với nhiều điểm tương tác giữa chúng và trong đó mỗi con đường được kết nối mật thiết.

 

Những ý tưởng này là trọng tâm của sự hiểu biết của chúng ta về sự tương tác giữa thực vật và vi sinh vật, nhưng cũng có ý nghĩa quan trọng đối với nông nghiệp. Tsuda cho biết: “Hai nhánh miễn dịch thực vật này góp phần chính vào khả năng kháng mầm bệnh. Các phương thức hoạt động của hệ thống miễn dịch thực vật là nền tảng cho bất kỳ ứng dụng kiến thức nào của chúng ta vào thực tế, chẳng hạn như nông nghiệp".

 

Bất chấp nỗ lực to lớn từ cộng đồng nghiên cứu để hiểu tín hiệu phòng vệ của thực vật và nhiều tiến bộ gần đây, vẫn còn nhiều điều chưa biết trong lĩnh vực này. Ví dụ, Tsuda cho biết cơ chế của "cách NLR sử dụng PRRs hoàn toàn không được biết". Trên thực tế, Lu và Tsuda đề xuất hai mô hình có thể giải thích sự tương tác này ở cấp độ tế bào, một trong số đó liên quan đến tín hiệu giữa các tế bào trong mô, dẫn đến khuyến nghị của Tsuda cho các nhà nghiên cứu để kiểm tra các phản ứng miễn dịch ở cấp độ tế bào đơn lẻ.

 

Tsuda kết luận: “Vì nhiều nhà nghiên cứu đang giải quyết câu hỏi này, chúng tôi sẽ cần cập nhật mô hình của mình hàng năm”.

 

Nguyễn Thị Quỳnh Thuận theo Phys.org

Trở lại      In      Số lần xem: 43

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD