Chào mừng Quý độc giả đến với trang thông tin điện tử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Tin nổi bật
Thành tích

Huân chương Ðộc lập

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Huân chương Lao động

- Hạng 1 - Hạng 2 - Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước

- Nghiên cứu dinh dưởng và thức ăn gia súc (2005)

- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC

- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)

- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn (2005)

- Giống Sắn KM 140 (2010)

Trung tâm
Liên kết website
lịch việt
Thư viện ảnh
Video
Trung Tâm NC Khoai tây, Rau và Hoa, trồng rau Hàn Quốc theo VietGap

Thống kê truy cập
 Đang trực tuyến :  14
 Số lượt truy cập :  26036692
Tuần tin khoa học 737 (10-16/05/2021)
Thứ bảy, 08-05-2021 | 05:46:58

Vai trò của Ufo1-1 trong phát triển nội nhũ và tích tụ carbohydrate của hạt bắp

 

Nguồn; Debamalya ChatterjeeKameron WittmeyerTzuu-fen LeeJin CuiNeela H YennawarHemant P YennawarBlake C MeyersSurinder Chopra. 2021. Maize unstable factor for orange1 is essential for endosperm development and carbohydrate accumulation. Plant Physiology; 26 April 2021.

 

Cây bắp (Zea mays L.) có đột biến trội tự phát sinh Ufo1-1 được viết tắt từ chữ unstable factor for orange1 (ufo1). Người ta vừa dòng hóa gen ufo1, một gen đặc thù của họ Poaceae biểu hiện trong giai đoạn phát triển của hạt bắp. Người ta tiến hành định tính gen Ufo1-1 và thực hiện “loss-of-function” bằng alen Ds chèn đoạn (ufo1-Dsg) để làm rõ vai trò gen ufo1 trong cây bắp. Người ta thấy rằng cả đột biến alen ufo1 đều tác động đến hàm lượng đường và hormones. Chúng làm sai lệch BELT (basal endosperm transfer layer) và loại hình tế bào nằm kế bên. Gen Ufo1-1 BETL làm suy giảm sự vươn dài của tế bào, sự dầy lên của thành tế bào, làm cho nó có dạng hình khối ở những tế bào đóng vai trò vận chuyển dịch dinh dưỡng. Trái lại, tế bào có gen ufo1-Dsg BETL biểu thị một sự suy giảm chung về kích thước với tăng trưởng thành tế bào bất thường. Phân tích sự thể hiện gen, người ta xác định được tác động của alen ufo1 trên nhiều gen cần thiết cho sự phát triển BETL. Sự biểu hiện mạnh mẽ gen Ufo1-1 ở nhiều mô khác dẫn đến kết quả là tạo ra những kiểu hình có tính chất ectopic (sai lệch), bao gồm sự tổ chức tế bào lộn xộn và hình thái tế bào khí khổng phụ trợ bất thường. Đặc biệt là, những transcriptomes ở lá và vỏ quả so với kiểu hình wild type, Ufo1-1 biểu hiện ectopic của gen khi phát triển nội nhũ. Như vậy Ufo1-1 tác động đến sự biểu hiện của một loạt các gen có trong tiến trình phát triển hết sức khác biệt nhau. Xem

 

https://academic.oup.com/plphys/advance-article-abstract/

 

Di truyền tính kháng bọ trĩ gây hại cây ớt

 

Nguồn; Pauline van HaperenRoeland E. VoorripsMartijn van KaauwenHenriëtte D. L. M. van EekelenRic C. H. de VosJoop J. A. van Loon & Ben Vosman. 2021. Fine mapping of a thrips resistance QTL in Capsicum and the role of diterpene glycosides in the underlying mechanism. Theoretical and Applied Genetics May 2021; vol. 134:1557–1573

 

Hình: Bọ trĩ cây ớt, Capsicum thrips (Frankliniella occidentalis)

 

QTL điều khiển tính kháng bọ trĩ gây hại cây ớt Capsicum d8ược thực hiện kỹ thuật “fine-mapped” ở đoạn phân tử có kích thước 0.4 Mbp. Người ta tiến hành bổ sung cách tiếp cận mang tính chất đa ngành để nghiên cứu cơ chế giả định. Tính kháng bọ trĩ là tính trạng nông học quan trọng cho nông dân trồng ớt. Côn trùng gây hại này có thể gây tổn thương nghiêm trọng cho trái ớt, bông và lá, trong điều kiện ngoài đồng, điều kiện nhà lưới ở khắp nơi trên thế giới. Hai nghiên cứu độc lập về Capsicum đã xác định diterpene glycosides là cơ chất biến dưỡng liên quan đến tính kháng bọ trĩ. Theo đó, người ta tiến hành fine-mapped xác định được QTL điều khiển tính kháng định vị trên nhiễm sắc thể 6, một vùng có độ lớn phân ntử 0.4 Mbp, mang 15 gen đích. Hai gen ứng cử viên trong mười lăm gen này biểu hiện sự khác biệt về thể hiện gen khi bọ trĩ tấn công cây ớt, so sánh giữa những cây mang alen kháng đồng hợp tử với cặp alen cây nhiễm đồng hợp tử, tại vùng có hiện diện QTL nói trên. Ba gen, bao gồm hai gen ứng cử viên có biểu hiện khác biệt, có một chỉ thị SNP mà người ta dự đoán nó làm thay đổi kiến trúc protein. Do vậy, ba gen này, i.e. mã hóa một men acid phosphatase 1 (APS1), một cation hữu cơ / carnitine transporter 7 (OCT7) và một locus chưa định tính rõ có tên là LOC107874801, chúng được xem xét như ứng cử viên đóng vai trò điều khiển tính kháng bọ trĩ. Người ta thực hiện bước đầu tiên để làm rõ cơ sở di truyền tính kháng bọ trĩ của cây ớt Capsicum. Người ta còn ghi nhận rằng: phổ thể hiện diterpene glycoside không khác biệt nhau giữa những cây mang alen kháng và cây mang alen nhiễm trên nhiễm sắc thể 6 (QTL), điều ấy khẳng định rằng: những hợp chất nói trên không có vai trò quyết định tính kháng bởi hoạt động của gen định vị trên QTL nghiên cứu ở trên.

 

Xem: https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-021-03790-6

 

Chỉnh sửa gen bằng kỹ thuật knockout TALEN trong hệ gen cây lúa

 

Yang Qin, Tae-sung Park , Youn Sung Cho, Myung-ho Lim. 2021. TALEN-mediated bar-knockout Rice Production and Transcriptome Profiling. Plant breeding and biotechnology; pp.32-44, 2021

 

Công nghệ chỉnh sửa gen theo hệ thống TALENs (transcription activator-like effector nucleases) và hệ thống CRISPER-Cas9 (clustered regularly interspaced short palindromic repeats associated  Cas9) đã và đang được phát triển thành công để sáng tạo ra đột biến phân tử DNA có chủ đích trong nhiều loài cây trồng. Công trình nghiên cứu khoa học này mô tả sự ứng dụng hệ thống TALEN để tạo ra tính kháng bialaphos (bar: bialaphos resistance) nhờ knockout con lai phân ly của giống lúa kháng thuốc cỏ (Ba15:  herbicide-tolerant rice). Sử dụng kỹ thuật microarray analysis trên những thay đổi hệ transcriptome của những dòng đột biến, để xác định  những ảnh hưởng không mong muốn làm ra từ đột biến không chủ đích. Người ta thu nhận được 41 cây T0 và xác định đột biến TALEN trình tự gen  bar trong 14 dòng của 41 cây T0. Chỉ thị SNP ở vị trí không chủ đích và chỉ thị  InDels chiếm tỷ lệ lớn trong đột biến này. Phân ly của protein phosphinothricin acetyltransferase (PAT) biểu hiện ra ở thế hệ T1 thuộc hai dòng lúa, R6 và R9. Thêm vào đó, hầu hết con lai T1 đều mang TALE-R expression cassette và tạo ra đột biến có tính chất  de novo mà đột biến ấy không được di truyền từ cây T0. Ba dòng bar-knockout T1 được xét nghiệm về mức độ thể hiện protein  PAT trong cây mạ non của con lai, những cây T2 mang gen bar bất hoạt. Người ta sàng lọc được ba cây bar-knockout T2 mà cây này không có TALE-DNA theo kết quả chạy microarray, để dẫn đến phải tìm hiểu sâu hơn những khác biệt của hệ transcriptome giữa những con lai không đột biến và con lai nhận đột biến. Chí có 31 DEGs (differentially expressed genes) được phân lập trong các dòng bar-knockout rice, có thể đây là kết quả của biến dị sô ma khi nuôi cấy tế bào in vitro. Cuối cùng, TALEN-mediated bar mutations là phương pháp có rất ít ảnh hưởng trên toàn bộ hệ transcriptome cây lúa. Đây là kết quả hữu ích để nghiên cứu những hiệu quả không mong muốn trong kỹ thuật chỉnh sửa hệ gen cây lúa.

 

Xem: http://www.papersearch.net/thesis/article.asp?key=3879335

 

Tổng quan nghiên cứu genomics cây sắn Manihot esculenta năm 2021

 

Nguồn: Jessica B LyonsJessen V BredesonBen N MansfeldGuillaume Jean BauchetJeffrey BerryAdam BoyherLukas A MuellerDaniel S RokhsarRebecca S Bart. 2021.  Current status and impending progress for cassava structural genomics. Plant Mol Biol.; 2021 Feb 18.  doi: 10.1007/s11103-020-01104-w. 

 

Người ta mong muốn làm sáng tỏ những tiến bộ gần đây trong nghiên cứu hệ gen cây sắn, loài cây trồng lương thực quan trọng, dị hợp tử (Manihot esculenta), and highlight key cassava genomic resources. Cây sắn, Manihot esculenta Crantz, là cây lương thực rất quan trọng của thế giới. Genomics cung cấp một nền tảng kiến thức giúp nhà chọn chống cải tiến dần dần tính trạng dinh dưỡng và nông học của cây sắn, cũng như minh chứng những sự kiện lịch sử tiến hóa trong quá trình thuần hóa từ loài hoang dại sang loài trồng trọt. Bản chất dị hợp tử rất cao của cây sắn được người ta ghi nhận trong tự nhiên. Tuy vậy, sự dị hợp tử ấy rất khó có thể hiểu được bản chất bí ẩn của chúng, bởi vì công nghệ của chúng ta còn hạn chế trong lĩnh vực chạy trình tự hệ gen. Gần đây, với công nghệ cải tiến như long-read sequencing technologies, người ta đã tìm kiếm cái gọi là genomics community hoàn toàn khả thi để giải quyết những nội dung khó khăn nhất cho nghiên cứu hệ gen cây sắn. Bài tổng quan này cung cấp các tư liệu hiện nay về hệ gen cây sắn được trình bày theo hệ thống thời gian và nguồn genomic. Các tác giả còn cung cấp cho chúng ta triển vọng thành tựu của những năm sắp tới. Xin lấy ví dụ về bản độ di truyền cây sắn sau đây: Các nhà di truyền cây sắn đã thực hiện bản đồ di truyền liên tục 20 năm qua (Fregene et al. 1997). Kể từ năm 2012, một loạt bài báo khoa học đã chứng minh sự hữu ích của chỉ thị phân tử SNP để làm bản đồ di truyền cây sắn, đặc biệt là người ta kết hợp cơ sở số liệu kiểu hình vào bản đồ của những tính trạng nông học quan trọng (Soto et al. 2015; ICGMC 2014; Rabbi et al. 2014ab; Rabbi et al. 2012). Cơ sở dữ liệu quốc tế có tên là International Cassava Genetic Map Consortium đã sử dụng GBS data từ 10 quần thể làm bản đồ (mapping populations) để xây dựng nên một bản đồ di truyền có tính chất tham chiếu, mật độ dầy đặc (composite reference map), bao gồm 22.403 chỉ thị phân tử phủ trên 18 LGs (linkage groups) (ICGMC 2014). Bản đồ có tính chất composite map này phát huy tính hữu dụng của nó, bao gồm nội dung  cải tiến hoặc đánh giá  những assemblies mới của hệ gen cây sắn (ICGMC 2014; Kuon et al. 2019; Bredeson et al. 2016). TỪ phần mềm version 5 đang lưu hành, những nhiễm sắc thể của assemblies tham chiếu AM560-2 đang được đánh số tùy theo bản đồ composite, ví dụ trên nhiễm sắc thể 7 tương ứng với LK VII (linkage group VII).

 

Xem: https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33604743/

 

Hình: Chiến lược tổng hợp hệ gen tham chiếu. 

  1. Tạo ra haploid representation (reference assembly) của hệ gen mang tính chất diploid inbred
  2. Dị hợp tử hiện có trong hệ gen có tính chất diploid outbred có nghĩa là trình tự từ haplotype của bố hoặc mẹ (màu xanh blue và vàng gold) có xu hướng assemble riêng biệt.
Trở lại      In      Số lần xem: 74

[ Tin tức liên quan ]___________________________________________________
  • Bản đồ di truyền và chỉ thị phân tử trong trường hợp gen kháng phổ rộng bệnh đạo ôn của cậy lúa, GEN Pi65(t), thông qua kỹ thuật NGS
  • Bản đồ QTL chống chịu mặn của cây lúa thông qua phân tích quần thể phân ly trồng dồn của các dòng con lai tái tổ hợp bằng 50k SNP CHIP
  • Tuần tin khoa học 479 (16-22/05/2016)
  • Áp dụng huỳnh quang để nghiên cứu diễn biến sự chết tế bào cây lúa khi nó bị nhiễm nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae
  • Vai trò của phân hữu cơ chế biến trong việc nâng cao năng năng suất và hiệu quả kinh tế cho một số cây ngắn ngày trên đất xám đông Nam Bộ
  • Tuần tin khoa học 475 (18-24/04/2016)
  • Vi nhân giống cây măng tây (Asparagus officinalis L.)
  • Thiết lập cách cải thiện sản lượng sắn
  • Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng
  • Liệu thủ phạm chính gây nóng lên toàn cầu có giúp ích được cho cây trồng?
  • Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
  • Sinh vật đơn bào có khả năng học hỏi
  • Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus
  • Bản đồ QTL liên quan đến tính trạng nông học thông qua quần thể magic từ các dòng lúa indica được tuyển chọn
  • Nghiên cứu khẳng định số loài sinh vật trên trái đất nhiều hơn số sao trong giải ngân hà chúng ta
  • Cơ chế di truyền và hóa sinh về tính kháng rầy nâu của cây lúa
  • Vật liệu bọc thực phẩm ăn được, bảo quản trái cây tươi hơn 7 ngày mà không cần tủ lạnh
  • Giống đậu nành chống chịu mặn có GEN gmst1 làm giảm sự sinh ra ROS, tăng cường độ nhạy với ABA, và chống chịu STRESS phi sinh học của cây Arabidopsis thaliana
  • Khám phá hệ giác quan cảm nhận độ ẩm không khí ở côn trùng
  • Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano
Designed & Powered by WEBSO CO.,LTD