Một trong những thành phần dinh dưỡng quan trọng trong sữa tươi là các axít béo, đặc biệt là axít linoleic liên hợp (CLA (c9, t11). Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng CLA rất quan trọng cho sức khỏe con người vì nó giúp phòng ngừa một số bệnh như ung thư, xơ vữa động mạch, giảm tích mỡ, tăng cường hệ miễn dịch…
Ở Việt Nam, sắn là một trong số những cây lương thực quan trọng sau lúa và ngô. Để nâng cao năng suất và chất lượng của sắn, đánh giá đa dạng di truyền về các tính trạng chọn lọc của các quần thể làm nguyên liệu lai tạo phải được ưu tiên hàng đầu. Trong nghiên cứu này, 44 giống đại diện trong tập đoàn sắn của Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lộc
Ở Việt Nam, sắn được trồng chủ yếu trên đất nghèo dinh dưỡng. Hàng năm, nông dân thu hoạch củ và thân lá sắn đã lấy đi từ ruộng sắn một lượng lớn các chất dinh dưỡng của đất nhưng không bón đủ các chất dinh dưỡng này trả cho đất. Vì thế, đất trồng sắn đã nghèo dinh dưỡng lại ngày càng nghèo và thiếu hụt dinh dưỡng hơn.
SSR markers (chỉ thị) đã được sử dụng để nghiên cứu sự khác biệt di truyền với 52 giống lúa khác nhau. Trong số 54 mồi SSR, 24 mồi được sao chép với tổng số là 180 băng, trong đó có 59 alen là đa hình. Số lượng trung bình các mảnh gien được khuếch đại bằng marker SSR (kích thước 190 bp đến 320 bp). Sản phẩm của PCR cho tỷ lệ biến động từ 90% tới 100%.
Thí nghiệm được thực hiện tại phòng phân tích di truyền phân tử, nhà lưới và ngoài đồng ruộng của Việ Lúa đồng bằng sông Cửu Long. Nội dung nghiên cứu gồm có: Nghiên cứu đánh gái kiểu gien thông qua chỉ thị phân tử SSR; tạo các quần thể hồi giao của hai tổ lai AS996/N22//AS996 để ổn định gien chịu nóng của nguồn cho vào các giống lúa làm nguồn nhận
Sự đa dạng cùa 225 mẫu dòng lúa mùa Một Bụi Lùn được đánh giá bằng phương pháp microsatallite và phương pháp đánh giá hình thái. Mục tiêu của đề tài là đánh giá sự đa dạng di truyền của giống lúa mùa Một Bụi Lùn tại Cà Mau; phân tích mối tương quan của các đặc tính nông học để ứng dụng trong việc chọn tạo giống lúa thuần.
Phân tích 310 dòng BC2F2 của tổ hợp lai OM5930/N22 trổ bông trong điều kiện nóng. Từ đó, bản đồ di truyền được tạo ra nhờ 264 chỉ thị SSR đa hình để phát hiện liên kết giữa chỉ thị và tính trạng nghiên cứu. Kết quả ghi nhận số chỉ thị của bản đồ phủ trên 2.741,63 cM với khoảng cách trung bình giữa hai chỉ thị là 10,55 cM.
Lúa Nanh Chồn với hương vị đặc biệt đã một thời là đặc sản của vùng Đất đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và nổi tiếng là giống lúa cho cơm ngon ở miền Nam, được sử dụng trong các dịp lễ, tết và thết đãi khách. Lúa Nanh Chồn chỉ trồng được 1 vụ/ năm và phù hợp với biện pháp cấy nên việc nghiên cứu kỹ thuật gieo thẳng và duy trì chất lượng trong bảo quản để sử dụng dần là rất cần thiết.
Khả năng kháng bệnh mốc sương do nấm Phytopthora infestan sp của 39 dòng/ giống khoai tây và 6 giống triển vọng được đánh giá bằng phương pháp lây nhiễm nhân tạo trong điều kiện nhà lưới tại Đà Lạt.
Giống lúa OM 10041 được chọn lọc từ tổ hợp lai D23/C56. OM 10041 có ưu điểm là giống ngon cơm, thơm, dẻo, có thời gian sinh trưởng ngắn 90-95 ngày, cứng cây, khả năng đẻ nhánh khả, năng suất khá cao, nhất là trong vụ đông xuân biến động 6-8 tấn/ha,
Phân tích mức độ đa dạng giữa 50 giống lúa cải tiến đem lại lợi ích rất lớn cho chương trình chọn giống như ảnh hưởng của sự lựa chọn thế hệ bố mẹ trong sự phát triển của giống cao sản.
Giống lúa OM8108 được chọn lọc từ tổ hợp lai M362/AS996. OM8108 có ưu điểm là giống có TGST ngắn 90 ngày trong vụ hè thu và 100 ngày trong vụ đông xuân, cứng cây (cấp 1), khả năng đẻ nhánh khá, năng suất khá cao nhất là trong vụ đông xuân, biến động 6-8 tấn/ha, đôi khi vượt trội tại một số điểm.
Oryza rufipogon (2n=24), hệ gien AA, phân bố rộng khắp tr6en các vùng sinh thái Việt Nam. Một dòng dẫn xuất từ O. rufipogon có nguồn gốc ở Đồng Tháp Mười được khai thác thành công trong 20 năm qua là AS996 (mẹ là IR64, trong hồi giao nhờ chỉ thị phân tử).
Nghiên cứu phòng trừ bệnh mốc đen lá hại cà chua vụ mưa được thực hiện tại huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2009. Kết quả cho thấy Daconil 75WP, Trineb 80WP, Dithane M-45 80WP có hiệu lực ức chế nảy mầm của bào tử nấm Pseudocercospora fuligena ở mức trung bình và Antracol zinc không cho thấy hiệu lực.
Vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) có diện tích đất xám là 744.652 ha, chiếm 31,75% tổng diện tích tự nhiên của vùng. Đất xám ĐNB chịu tác động khá lớn của quá trình rửa trôi, xói mòn, chính vì vậy, việc sử dụng các loại phân bón hữu cơ nhằm góp phần duy trì và cải thiện độ phì nhiêu của đất xám mang ý nghĩa to lớn trong việc khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả và bền vững đối với vùng đất này.
Kết quả nghiên cứu về hiện trạng sản xuất lúa bình quân hộ được điều tra có diện tích nhỏ nhất là 0,5 ha, lớn nhất là 6,5 ha và trung bình là 2,2 ha. Có 100% số hộ sản xuất lúa Đông Xuân (ĐX) và Hè Thu (HT), chỉ có 55% hộ sản xuất vụ Thu Đông (TĐ). Năng suất trung bình vụ ĐX đạt được 7,17 T/ha (hộ đạt thấp 5 T/ha, cao nhất 8 T/ha)
Kết quả nghiên cứu về công suất/ngày của các nhà máy biến thiên từ 30 tấn cho đến 500 tấn/ngày, trung bình là 170,2 tấn/ngày. Lượng lúa xay chà thực tế/năm biến thiên khá lớn giữa các nhà máy từ 2.040 tấn/năm cho đến 100.000 tấn/năm. Trung bình là 33.360 tấn/năm. Có 20% nhà máy hoạt động vượt công suất lý thuyết/năm, từ 130 – 141%, trong khi có đến 80% nhà máy hoạt động dưới mức công suất lý thuyết/năm.
Lan hồ điệp là cây trồng có giá trị kinh tế cao đối với một số nước xuất khẩu hoa. Vi rút gây bệnh khảm vàng trên lá (CyMV) là bệnh nguy hiểm và gây hại phổ biến nhất đối với cây hoa lan trên toàn thế giới.
Nghiên cứu được thực hiện trong 2 vụ liên tục trên cùng một thửa đất và được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD) với 03 lần lặp lại. Các công thức thí nghiệm bao gồm: đối chứng (bón phân khoáng: 60 kg N + 60 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha) và bón phân hữu cơ vi sinh với liều lượng: 500 – 1000 – 1500 – 2000 kg/ha/vụ
Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Ninh Thuận từ tháng 12 năm 2011 đến tháng 6 năm 2012, với cách tiếp cận là vận dụng lý thuyết “Liên kết chuỗi giá trị - ValueLinks” (2007) của Eschborn GTZ (Deutsche Gesellchaft für Technische Zusammenarbeit-Đức)
Giống lúa OM5953 là giống lúa thuần được chọn lọc từ tổ hợp lai C53/OM269, từ năm 2005. OM5953 rất có triển vọng, có ưu điểm cứng cây, đẻ nhánh khỏe, năng suất cao 95-7 tấn/ha)
Giống nếp OM7348 là giống nếp thuần được chọn lọc từ tổ hợp lai Nếp lá xanh/Nếp Ốc//Nếp lá xanh. OM7348 là giống nếp cao sản, có thời gian sinh trưởng trung bình 95 ngày (điều kiện cấy),
Giống lúa OM7398 được chọn lọc từ tổ hợp lai AS996/IR72043B-R-8-2-3-1. OM7398 có ưu điểm là giống lúa chịu điều kiện khô hạn cấp 3 giai đoạn mạ (1 tháng tuổi), dạng hình đẹp, cứng cây, đẻ nhánh khỏe, năng suất cao và ổn định ở cả hai vụ (5-7 tấn/ ha),
Giống lạc GV 10 được chọn từ tổ hợp lai GV3 x LVT bằng phương pháp phả hệ, do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (HARC) thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam (IAS) thực hiện.
Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương từ năm 2006 đến 2012 trên các vùng sinh thái Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, qua các vụ trồng hè thu, thu đông và đông xuân
Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương giai đoạn năm 2006-2012 trên các vùng sinh thái Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, qua các vụ trồng hè thu, thu đông và đông xuân
Cải thiện để nâng cao sức đề kháng chống hạn, một tính trạng chủ chốt và cơ chế chống hạn có hiệu quả là một việc làm rất cần thiết trên cây lúa.
Nghiên cứu phòng trừ bệnh héo xanh cây bầu do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra bằng biện pháp ghép được thực hiện tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh và huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 6 năm 2012.
Khả năng kháng bệnh ghẻ thường do xạ khuẩn Streptomyces scabies của 33 dòng/ giống khoai tây được đánh giá bằng phương pháp lây nhiễm nhân tạo trong điều kiện nhà lưới tại Đà Lạt.
Trong nghiên cứu này đa dạng di truyền của 19 giống khoai mì (Manihot esculenta Crantz) được đáng giá dựa vào các chỉ tiêu hình thái và các chỉ thị SSR liên quan chủ yếu đến năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột.












