Đánh giá tác động của việc bón phân cân đối cho cây cà phê vối đến chất lượng môi trường đất đỏ bazan ở vùng cao nguyên Di Linh, tỉnh Lâm Đồng được thực hiện với 2 nhóm đối tượng vườn (20 mẫu vườn bón phân cân đối, bón kết hợp giữa phân vô cơ và hữu cơ; 18 mẫu vườn bón phân không cân đối, chỉ bón phân vô cơ) trong quá trình thâm canh cây cà phê vối tại vùng cao nguyên Di Linh, tỉnh Lâm Đồng; thời gian thực hiện từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2022.
Carbon dioxide (CO2) là khí nhà kính (GHG) dồi dào nhất trong khí quyển và là chất nền cho quá trình cố định carbohydrate quang hợp ở thực vật. Việc tăng GHG từ khí thải của con người đang làm nóng hệ thống khí quyển của Trái đất ở tốc độ đáng báo động và thay đổi khí hậu, có thể ảnh hưởng đến quá trình quang hợp và các phản ứng sinh hóa khác ở cây trồng theo hướng thuận lợi hoặc bất lợi, tùy thuộc vào loài thực vật.
Phốt pho (P) là chất dinh dưỡng thiết yếu giúp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển một cách bình thường. Đất phèn chứa nhiều độc chất Fe và Al gây nên sự cố định P, dẫn đến hiệu quả sử dụng của phân lân thấp. Thí nghiệm trong nhà lưới được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 5 nghiệm thức, 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là một chậu. Các nghiệm thức thí nghiệm gồm: NT1 (đối chứng), NT2 (30 kg P2O5/ha), NT3 (30 kg P2O5/ha phối trộn DCAP), NT4 (60 kg P2O5/ha) và NT5 (60 kg P2O5/ha phối trộn DCAP).
SOFIX (Soil Fertility Index) là công nghệ đánh giá sức khỏe đất dựa vào mối quan hệ giữa chất hữu cơ của đất và vi sinh vật để tái sử dụng nguồn hữu cơ của địa phương nhằm xây dựng nền nông nghiệp tuần hoàn bền vững, thân thiện với môi trường. SOFIX đánh giá tính chất sinh học, kết hợp với tính chất hóa, lý đất (19 chỉ tiêu), công nghệ mang tính đột phá trong đánh giá và đề xuất biện pháp phù hợp nhằm nâng cao sức khỏe đất và năng suất cây trồng, giảm phân bón hóa học, tăng tích lũy carbon và giảm phát thải khí nhà kính.
Hệ thống cảm ứng đơn bội trung gian chỉnh sửa bộ gen (HIS) là một chiến lược đầy hứa hẹn để tăng cường hiệu quả chọn giống ở các loại cây họ đậu, đóng vai trò quan trọng đối với nền nông nghiệp bền vững do lợi ích dinh dưỡng và khả năng cố định đạm của chúng. Việc lai tạo cây họ đậu theo phương pháp truyền thống thường chậm và phức tạp do bộ gen của cây họ đậu rất phức tạp và những thách thức liên quan đến nuôi cấy mô.
Trong nghiên cứu này, sự hình thành phôi soma và sự tái sinh của cây sắn ruột vàng Phú Thọ từ đỉnh chồi và mảnh lá non lấy từ cây trồng in vitro đã được kiểm tra. Các thử nghiệm cho thấy, khử trùng mẫu bằng NaOCl 3% trong 15 phút, lặp lại hai lần cho tỷ lệ mẫu sạch cao (77,8%) và tỷ lệ mẫu chết thấp (24,3%). Môi trường phát sinh mô sẹo tốt nhất là MS nền có bổ sung 10 mg/L 2,4-D cho tỷ lệ hình thành mô sẹo cao đạt 79,4% với nuôi cấy mảnh lá và 81,8% với nuôi cấy chồi đỉnh.
Căng thẳng do ngập úng đang là mối đe dọa ngày càng tăng đối với sản lượng đậu nành toàn cầu [Glycine max (L.) Merr.] vì tần suất và cường độ của lượng mưa cực đoan đang gia tăng do biến đổi khí hậu. Đậu nành rất nhạy cảm với ngập úng và đã quan sát thấy tình trạng mất năng suất đáng kể do một loạt các phản ứng sinh lý tiêu cực do tình trạng thiếu oxy gây ra.
Giá đậu để ăn được đề xuất là nguồn thực vật đầy hứa hẹn của enzyme diamine oxidase (DAO), đóng vai trò quan trọng trong việc phân hủy histamine ở đường ruột và ngăn ngừa sự phát triển của các triệu chứng không dung nạp histamine. Tuy nhiên, điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cần thiết cho quá trình nảy mầm của hạt cũng có thể thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của nấm men và nấm mốc, có khả năng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng giá đậu.
Đối với mỗi quốc gia, đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống. Sức khỏe đất là trụ cột quan trọng của môi trường đảm bảo dinh dưỡng và chất lượng cây trồng, đặc biệt là cây trồng trong nông nghiệp. Đất là ngôi nhà của các hệ sinh thái, nó cung cấp thực phẩm, năng lượng, nguyên liệu, điều hòa nguồn nước, kiểm soát dịch bệnh và hấp thụ carbon.
Bệnh khảm lá virus hại sắn (mì) có tên khoa học là Sri Lanka Cassava Mosaic Virus (SLCMV), lan truyền qua môi giới truyền bệnh là bọ phấn trắng (Bemisia tabaci) và qua hom giống nên khả năng lây lan rất nhanh, gây hại nghiêm trọng các vùng trồng sắn. Tháng 5/2015, bệnh khảm lá sắn đã được phát hiện tại tỉnh Ratanakiri và KaunMoum của Campuchia, giáp với tỉnh Tây Ninh của Việt Nam (cách biên giới Việt Nam khoảng 40 km).
Ở Việt Nam, sức khỏe đất và quản lý dinh dưỡng cây trồng đang đối mặt với nhiều vấn đề. Sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam dựa vào nguồn tài nguyên đất đai hạn hẹp. Diện tích đất nông nghiệp của Việt Nam khoảng 28,002 triệu ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 42% (11,673 triệu ha) (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 2022), diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người trên thế giới là 0,52 ha; trong khu vực là 0,36 ha thì ở Việt Nam chỉ là 0,25 ha; thuộc loại thấp nhất trên thế giới.
Phát triển giống lúa kháng đạo ôn là giải pháp tối ưu trong chiến lược ổn định năng suất lúa. Theo phân tích QTL (linkage map), người ta dễ bị nhầm lẫn bởi sự đồng tiến hóa giữa ký chủ và ký sinh trên cơ sở chỉ thị phân tử. Gen kháng R và gen Avr có quá nhiều biến thể mới, tạo ra vùng chồng lấp trên một nhiễm sắc thể (gene cluster). Phương pháp NGS giúp chúng ta phân định rõ gen ứng cử viên, gen đích, với sự trợ giúp của “SNP arrays” và tin sinh học.
Trữ lượng carbon là một yếu tố quan trọng để đánh giá về khả năng giữ carbon và chất lượng của đất. Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định khả năng cố định carbon hữu cơ trong đất trên một số kiểu canh tác ở vùng đồng lụt ven sông Tiền và sông Hậu và vùng đồng lụt kín của tỉnh Đồng Tháp. Ở hai khu vực này, chọn 10 khu vực nhỏ (1 km × 1 km) để khảo sát các kiểu canh tác và lấy mẫu đất ở tầng 0 - 20 cm và 20 - 50 cm.
Giống nhãn LĐ11 là tổ hợp lai giữa nhãn Tiêu da bò (Dimocarpus longan) và nhãn Xuồng cơm vàng (Euphoria longana) được nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa bỏ quả nhỏ, quả đôi phối hợp phun GA3 trên nền phân bón gốc ở địa bàn tỉnh Tiền Giang cho thấy: tỉa để lại 25 quả/chùm cho quả to, đều, đường kính quả đạt 25,5 mm, khối lượng 13,9 g/quả.
Cây sầu riêng (Durio zibethinus Murr.) là cây có giá trị kinh tế cao, được trồng chủ yếu ở Đông Nam bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng Sông Cửu Long, nhiều nhất là các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Lâm Đồng [2]. Từ năm 2008-2019, diện tích trồng sầu riêng tăng từ 17.500ha lên 58.580,7 ha. Sản lượng sầu riêng cũng tăng mạnh từ 93.000 tấn lên hơn 478.600 tấn [3], tập trung tại các tỉnh phía Nam, trong đó Tiền Giang (13.810,1 ha), Vĩnh Long (3.276,4 ha), Bến Tre (2.494,0 ha), Lâm Đồng (10.089,9 ha), Đắk Lắk (8.967 ha) và Đồng Nai (10.807,5 ha).
Nghiên cứu ảnh hưởng của kali, kẽm, bo đến năng suất lúa trên một số loại đất chính của vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã và sông Cửu Long được thực hiện tại Thái Bình, Thanh Hóa, Sóc Trăng và Long An trong 2 năm (2020 - 2021). Các thí nghiệm đồng ruộng chính quy đã được triển khai gồm: phân kali (MOP-KCl), phân kali phối trộn với Zn, B (K_Boozter), kẽm sunfat (ZnSO4 .7H2O), borax (Na2B4O7 .10H2O).
Kết quả đánh giá ảnh hưởng của các dòng nấm nội cộng sinh Gigaspora candida - VS10, Entrophospora colombiana - VS7 và Glomites rhyniensis- VS5 đến sinh trưởng và phát triển của cây ngô trong điều kiện phòng thí nghiệm và nhà lưới cho thấy các chủng nấm nội cộng sinh có hiệu quả tích cực đến sinh trưởng của cây ngô.
Tuyển chọn giống hồ tiêu có khả năng chịu hạn nhằm giảm lượng nước tưới và kéo dài chu kỳ tưới để thích ứng với biến đổi khí hậu là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu được thực hiện trên 5 giống hồ tiêu (DP6, KT2, TS, V13, V15) với 4 công thức tưới nước (CT1: Tưới 1,5 lít/chậu khi độ ẩm đất 28 - 30%; CT2: Tưới 1,1 lít/chậu khi độ ẩm đất 28 - 30%; CT3: Tưới 1,5 lít/chậu khi lá héo; CT4: Tưới 1,1 lít/chậu khi lá héo).
Nhằm khắc phục những hạn chế do hiệu suất sử dụng phân bón thấp, chi phí nhân công cao, bón phân không cân đối v.v., việc sản xuất phân bón hỗn hợp nhả chậm là một hướng đi có triển vọng. Nghiên cứu sản xuất thử nghiệm phân hỗn hợp NPK bọc lưu huỳnh (S) nhả chậm là kết quả hợp tác giữa Viện Thổ nhưỡng Nông hóa và Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam từ năm 2020 - 2021.
Cây sắn là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ nông dân nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số do cây sắn chịu được đất nghèo dinh dưỡng, chịu hạn tốt, dễ trồng, ít chăm sóc, chi phí thấp, dễ thu hoạch, dễ chế biến. Những năm gần đây sản xuất sắn gặp nhiều khó khăn và rủi ro do sâu bệnh gây ra như bệnh chổi rồng (Phytoplasma sp), rệp sáp hồng (Phenacoccus manihoti), nhện đỏ (Tetranychus sp.)…đặc biệt là bệnh khảm lá sắn do virus Sri Lanka Cassava Mosaic Virus gây ra.
Cây sắn (Manihoti esculenta Crantz) ngoài sử dụng như là nguồn lương thực, đồng thời cũng là cây thức ăn gia súc, cây dùng để sản xuất nhiên liệu sinh học, cây hàng hóa xuất khẩu quan trọng trên thế giới và Việt Nam. Phú Yên là một trong 10 tỉnh có diện tích trồng sắn lớn nhất nước, tính đến niên vụ 2020-2021, diện tích sắn tại tỉnh Phú Yên khoảng 27.600ha, năng suất sắn củ khoảng trên 20 tấn/ha.Là cây trồng chủ lực của tỉnh để phát triển kinh tế hàng hóa phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tối ưu phương pháp tạo chồi và nhân nhanh chồi trực tiếp từ mắt ngủ của chồi nách giống dứa MD2. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mẫu chồi nách đạt hiệu quả khử trùng tốt nhất khi xử lý với chất diệt nấm HgCl2 0,1% trong thời gian 15 phút và cấy trên môi trường có bổ sung kháng sinh Cefotaxime 500 mg/L. Khả năng bật chồi tốt nhất trên môi trường nuôi cấy MS có bổ sung 3 mg/L BAP.
Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá khả năng nhân chồi in vitro từ cành non của giống điều AB0508. Nghiên cứu đã so sánh ảnh hưởng của agar và phytagel kết hợp với chất chống oxy hóa Poly Vinyl Pyrrolidone (PVP) và than hoạt tính để giảm sự hóa nâu do các hợp chất phenolic trong mẫu gây ra. Kết quả cho thấy, sử dụng môi trường nuôi cấy MS, bổ sung đường 30 g/L, Phytagel 2,25%, PVP 1 g/L, nuôi cấy trong điều kiện chiếu sáng 16 giờ với cường độ ánh sáng 45 - 55 µmol m-2 s-1 cho tỷ lệ hóa nâu của mẫu thấp nhất và tỷ lệ sống tốt nhất (27,12%).
Thanh long là loại cây ăn quả có giá trị kinh tế và giá trị xuất khẩu cao, giá trị xuất khẩu thanh long chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu giá trị sản xuất cây ăn quả của Việt Nam. Rệp sáp giả (mealybug) (Hemiptera: Pseudococcidae) là một trong những sinh vật gây hại phổ biến và quan trọng đối với sản xuất thanh long. Rệp sáp giả xuất hiện và gây hại trên cả cành và quả, cây nhiễm rệp sáp giả nặng sinh trưởng kém, cành non có thể bị vàng rụng, quả còi cọc, độ ngọt giảm đi,…
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phát triển phương pháp tách tế bào trần từ mô thịt lá sắn tại Việt Nam, phục vụ dung hợp tế bào trần, phát triển giống sắn mới. Lá của giống sắn kháng bệnh khảm lá sắn HN3 và dòng sắn C-33 từ cây sắn nuôi cấy in vitro được tiền xử lý qua dung dịch có nền khoáng CPW (Frearson et al., 1973) có nồng độ mannitol tăng dần từ 5%; 9% và 13% mannitol, ủ trong các dung dịch trên với thời gian 1 giờ.
Mặn là một trong những căng thẳng phi sinh học chính ảnh hưởng tiêu cực đến sự tăng trưởng và năng suất của cây trồng. Natri nitroprusside (SNP) - một chất cho oxit nitric (NO) bên ngoài - đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc truyền khả năng chịu mặn cho cây trồng. Đậu tương (Glycine max L.) được trồng rộng rãi trên thế giới; tuy nhiên, áp lực về mặn cản trở sự tăng trưởng và năng suất của nó. Do đó, nghiên cứu hiện tại đã đánh giá vai trò của SNP trong việc cải thiện các thuộc tính hình thái, sinh lý và sinh hóa của đậu tương dưới điều kiện mặn.












