Canh tác lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu nông sản của quốc gia. Dự thảo “chiến lược an ninh lương thực quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” xác định tầm quan trọng chiến lược của sản xuất lúa ở ĐBSCL, theo đó diện tích lúa ở đây sẽ được duy trì khoảng 1,7 triệu ha.
Trong các chương trình giống lợn, các cá thể được đánh giá là tốt nhất ở đàn giống thuần chưa chắc cho kết quả nhân giống tốt nhất ở đàn giống lai. Do vậy, mục tiêu của nghiên cứu này nhằm ước tính tương quan di truyền giữa đàn giống thuần (Yorkshire và Landrace) và đàn giống lai (YL và LY)
Thí nghiệm được thực hiện tại 2 cơ sở chăn nuôi ở vùng Đông Nam Bộ từ 2007-2009, với tổng số 552 con lợn nuôi thịt và 40 con khảo sát chất lượng thịt của các công thức lai 3-4 giống giữa đực cuối cùng (Pietrain&Duroc) có tỷ lệ gen khác nhau với nái lai F1 (LY).
Bảy mươi hai bê đực hướng sữa được chia thành 9 nhóm, mỗi nhóm 8 con trong một thí nghiệm 2 yếu tố gồm (i) Mức thay thế sữa tươi bằng chất thay sữa: 70, 80 và 90% và (ii) Chế độ sử dụng số sữa tươi còn lại: 1, 2 và 3 tháng
Kết quả điều tra trên 300 bò sữa (>75%HF) tại các huyện Củ Chi và Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh cho thấy rằng có đến 42,3% số bò sữa có khoảng cách hai lứa đẻ dài trên 14 tháng. Người chăn nuôi thường cung cấp khẩu phần giống nhau cho những đối tượng bò có khối lượng và năng suất sữa khác nhau
Huyện Ea Súp, Đắk Lắk có gần 14 ngàn ha đất trồng lúa, chiếm hơn 50% diện tích cây hàng năm ngắn ngày của huyện. Mặc dù lúa là cây chủ lực nhưng đặc trưng của hệ canh tác vẫn là hệ thống cây trồng cạn hàng năm do lúa trồng trên cạn chiếm đa phần diện tích (75%).
Nghiên cứu này được tiến hành từ tháng 4/2010 đến tháng 9/2010 trên 107 trâu cái, nuôi trong các nông hộ tại Bỉm Sơn (Thanh Hóa, n=40), Thanh Chương, Tân Kỳ (Nghệ An, n=40) và Bình Sơn (Thái Nguyên, n=27). Trâu cái có tình trạng sinh sản bình thường, phát hiện trâu cái động dục tự nhiên bằng kinh nghiệm của chủ hộ.
Từ các kết quả khảo sát xây dựng các công thức của 2 chế phẩm có nguồn gốc thảo dược dùng để hỗ trợ tiêu hóa và phòng chống các bệnh đường ruột cho gia súc, hai quy trình sản xuất cho hai chế phẩm đã được xây dựng
Trong bài báo này, tiêu chuẩn kiểm nghiệm của 5 bán thành phẩm (berberin từ Vàng đắng, curcumin từ Nghệ, cao Sài đất, cao Cam thảo và cao Hoàng kỳ) và 2 chế phẩm (thuốc cốm 01 và thuốc cốm 02) đã được khảo sát và xây dựng
Protein từ thức ăn ăn vào trong dạ cỏ phần lớn sẽ bị khu hệ vi sinh vật lên men thành các axít amin và cuối cùng thành amoniac (NH3). Để tránh được sự lên men của vi sinh vật trong dạ cỏ đối với các protein thực thì cần phải làm giảm sự hòa tan và phân giải của protein trong dạ cỏ
Protein trong thức ăn ăn vào trong dạ cỏ phần lớn sẽ bị khu hệ vi sinh vật lên men thành các axít amin và cuối cùng thành amoniac (NH3). Để tránh được sự lên men của vi sinh vật trong dạ cỏ đối với các protein thực thì cần phải làm giảm sự hòa tan và phân giải của protein trong dạ cỏ
V-118 là giống lai đơn mới của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam. Đây là giống ngô cho năng suất cao ổn định. Tiềm năng năng suất đạt trên 10 tấn/ha. Trên ruộng nông dân, V-118 đạt 7 -8 tấn/ha
Bằng phương pháp chỉ thị phân tử phối hợp với lai hồi giao cải tiến đã chọn tạo thành công giống lúa OM 6161 quy tụ đươc nhiều gien mong muốn từ tổ hợp C51 lai vớ Jasmine 85. Giống OM 6161 có thời gian sinh trưởng ngắn (95-100 ngày).
Protein trong thức ăn ăn vào trong dạ cỏ phần lớn sẽ bị khu hệ vi sinh vật lên men thành các axít amin và cuối cùng thành amoniac (NH3). Để tránh được sự lên men của vi sinh vật trong dạ cỏ đối với các protein thực thì cần phải làm giảm sự hòa tan và phân giải của protein trong dạ cỏ
Từ tổ hợp lai OM 5900/IR 64-sub1//OM 5900 thông qua phương pháp truyền thống kết hợp với công nghệ sinh học, ở thế hệ BC2F3 đã xác định được 10 dòng (10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19) có khả năng chống chịu đựơc điều kiện ngập trên cách đồng từ 90-99%.
Đã khảo sát nguồn vật liệu bố mẹ trong chọn tạo giống ngô chịu hạn cho các tỉnh phía Nam trên 62 dòng ngô và 8 chỉ thị phân tử SSR có liên quan đến QTL (các địa điểm tích trọng số lượng) chịu hạn. Khảo sát kiểu hình các dòng thuần trên điều kiện đồng ruộng, với hai chế độ nước khác nhau cho thấy có sự khác biệt lớn cảu các tính trạng giữa chúng.
Kết quả đánh gái kiểu hình của các tổ hợp lai cho thấy, ở thế hệ F1, tổ hợp lai cho khả năng kháng tốt với bệnh gỉ sắt là: MTD 176/OMDN 109, /OMDN 176/ AK 05, Nam Vang/ OMDN 109, Nam Vang/OMDN 110 (cấp 1), Nam Vang/MTD 176 (cấp 0). Khi phân tích ở thế hệ F2 ghi nhận gien kháng gỉ sắt trên các cặp lai Nam Vang/ OMDN 109 và Nam Vang/OMDN 110 với sự phân ly độc lập bởi 1 gien trội và 1 gien lặn.
Đề tài được tiến hành 30 tháng tại các nông hộ và trang trại chăn nuôi trâu của xã Minh Đức, huyện Hớn Quản và xã Đăng Hà, huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước trên các đối tượng: Đàn trâu đực giống Murrah (4 con), đàn nghé đực giống Murrah (10 con), đàn nghé lai F1 sinh ra giữa trâu đực Murrah với trâu cái địa phương và đàn nghé nội (đối chứng).












