Báo cáo đánh giá khí hậu quốc gia được xây dựng theo quy định tại Điều 35 của Luật khí tượng thủy văn năm 2015 và nội dung của Báo cáo đánh giá khí hậu quốc gia được quy định tại Thông tư số 08/2016/TT-BTNMT. Báo cáo Đánh giá khí hậu quốc gia lần thứ nhất (sau đây gọi tắt là Báo cáo đánh giá khí hậu quốc gia) đã đánh giá khí hậu cho toàn bộ lãnh thổ Việt Nam bao gồm khí hậu trên đất liền và khí hậu vùng biển. Các phương pháp thống kê, phương pháp mô hình toán, phương pháp tổng hợp, kế thừa được sử dụng để xây dựng báo cáo.
Giá trị hạ thấp nhất là 1,27m tại xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi (QT6a-QN).
Trong quý I/2020: Mực nước trung bình quý nông nhất là -1,12m tại TT. Hà Lam, huyện Thăng Bình, Quảng Nam (QT13a-QD) và sâu nhất là -7,26m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi (QT9a-QN).
Diễn biến mực nước dưới đất quý I năm 2020 so với quý I năm 2019: mực nước có xu thế hạ là chính. Giá trị hạ thấp nhất là 1,35m tại TT. An Bình, TX.An Khê,tỉnh Gia Lai (LK18T) và giá trị dâng cao nhất là 0,93m tại TT.Phú Thiện, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai (C7a)
Diễn biến mực nước dưới đất quý I năm 2020: nhìn chung mực nước có xu thế hạ so với quý I năm 2019 (xem hình 1). Giá trị hạ thấp nhất là 2,45m tại xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TP HCM (Q01302DM1) và giá trị dâng cao nhất là 0,35m tại xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TP HCM (Q01302BM1).
Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước và 5 năm trước cho toàn vùng Nam Trung Bộ và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính Holecene (qh) và Pleistocene (qp) như sau. Dưới đây là một số tóm tắt nội dung chính trong bản tin tháng 6.
Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước và 5 năm trước cho toàn vùng Bắc Trung Bộ và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính gồm tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q),
Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước và 5 năm trước cho toàn vùng Nam Bộ và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính Pleistocene (qp) và Pliocenen (n) như sau. Dưới đây là một số tóm tắt nội dung chính trong bản tin tháng 6.
Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước và 5 năm trước cho toàn vùng Nam Trung Bộ và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính Holecene (qh) và Pleistocene (qp). Dưới đây là một số tóm tắt nội dung chính trong bản tin tháng
Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước và 5 năm trước cho toàn vùng Tây Nguyên và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII),
Diễn biến mực nước dưới đất tháng 1/2019 so với giá trị trung bình tháng 7/2018 cho thấy mực nước có xu hướng dâng ở tất cả các tầng chứa nước chính. Mực nước trung bình tháng sâu nhất ở tầng qp2-3 là 31,83m tại phường Đông Hưng, quận 12, TP Hồ Chí Minh (Q019340).
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hiện có các công trình quan trắc ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng. Các tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trên xuống gồm tầng chứa nước lỗ hổng Holocene (qh) và Pleistocene (qp).
Vùng Tây Nguyên gồm có 4 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N).
Vùng Nam Bộ có 5 tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3), tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n22), tầng chứa nước Pliocene hạ (n21). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2017 và các tháng đầu năm 2018,
Vùng Tây Nguyên gồm có 4 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N)
Diễn biến mực nước dưới đất tháng 1/2018 so với giá trị trung bình tháng 12/2017 cho thấy mực nước có xu thế hạ ở hầu hết các tầng chứa nước chính, tầng chứa nước n21 có xu hướng dâng hạ không đáng kể. Mực nước sâu nhất ở tầng qp2-3 là 33,76m tại phường Đông Hưng, quận 12, TP Hồ Chí Minh (Q019340).
Vùng Nam Bộ có 5 tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3), tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n 2), tầng chứa nước Pliocene hạ (n 1).
Vùng Tây Nguyên gồm có 4 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N).
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hiện có các công trình quan trắc ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng. Các tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trên xuống gồm tầng chứa nước lỗ hổng Holocene (qh) và Pleistocene (qp). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích và đánh giá để dự báo cho tháng 7 và tháng 8 năm 2017.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam nằm ở cuối nguồn lưu vực sông Mê Công (LVSMC), với tổng diện tích tự nhiên vào khoảng 4 triệu ha, phía Bắc giáp với Campuchia, phía Đông và Tây bao bọc bởi biển hơn 700km đường bờ. Địa hình khá bằng phẳng và tấhp, cao độ phổ biến khoảng +1m so với mực nước biển bình quân. Bị ảnh hưởng của thủy triều và xâm ngập mặn hàng năm với diện tích nhiễm mặn tiềm năng lên tới 1,7 triệu ha,
Chi tiết xin xem tại:
Vùng Nam Bộ có 5 tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầngchứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3),tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n22), tầng chứanước Pliocene hạ (n21). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2016và tháng đầu năm 2017 diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá đểdự báo cho tháng 2 và 3 năm 2017.
Vùng Tây Nguyên gồm có 4 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trẻ đến giàgồm: tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổngphun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun tràoBazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa cácthành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N).
Vùng Nam Trung Bộ hiện có 03 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt được xâydựng theo Quyết định số 2208/QĐ-BTNMT ngày 31/10/2008 của Bộ Tài nguyên vàMôi trường về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình “Xây dựng mới 4 trạmquan trắc tài nguyên nước mặt khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ giai đoạn 2007-2010”. Các yếu tố quan trắc chủ yếu là nhiệt độ nước, mực nước, lưu lượng, hàmlượng chất lơ lửng và chất lượng nước
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hiện có 41 công trình quan trắc, trong vùng có3 tầng chứa nước lỗ hổng và 2 tầng chứa nước khe nứt tại các tỉnh Quảng Nam, QuảngNgãi và thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đấtnăm 2015 và 2016, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dựbáo mực nước tháng 1 và tháng 2 năm 2017 cho tầng chứa nước chính là tầng chứanước Holocene (qh) và tầng chứa nước Pleistocene (qp).
Vùng Nam Bộ có 5 tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3), tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n22), tầng chứa nước Pliocene hạ (n21). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2014 và 11 tháng năm 2015 diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo cho tháng 12/2015 và 1/2016.
Vùng Nam Trung Bộ hiện có 03 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt được xây dựng theo Quyết định số 2208/QĐ-BTNMT ngày 31/10/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình “Xây dựng mới 4 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ giai đoạn 2007-2010”. Các yếu tố quan trắc chủ yếu là nhiệt độ nước, mực nước, lưu lượng, hàm lượng chất lơ lửng và chất lượng nước.
Vùng Tây Nguyên gồm có 4 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N).
Theo Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng cho Việt Nam được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố lần đầu vào năm 2009 trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước. Năm 2011, Chiến lược quốc gia về BĐKH được ban hành, xác định mục tiêu cho các giai đoạn và các dự án ưu tiên; Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cập nhật kịch bản BĐKH và nước biển dâng.
Hàng năm, nông nghiệp trồng trọt sử dụng khoảng70% tới 90% lượng nước ngọt trên thế giới: cho khoảng 20% đất nông nghiệp và đóng góp khoảng 40% lượng lương thực thế giới
• Trên toàn cầu, lượng nước dùng trong công nghiệp được dự đoán sẽ tăng gấp đôi trong thời kì từ 2010 tới 2030, trong khi nước dùng cho tưới tiêu cho tới 2050 sẽ tăng khoảng 5%.
Trên toàn Châu Á, thập kỷ qua chứng kiến những lo ngại ngày càng tăng về sự bền vững của cơ sở hạ tầng tốn kém cho nước và về sự khan hiếm nước nổi lên do tăng cầu và những sử dụng cạnh tranh. Những lo ngại này đã dẫn đến một sự suy nghĩ lại và sự tổ chức lại những vai trò của Chính phủ trong việc phát triển và quản lý tưới tiêu…












