Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của nồng độ naphthalene acetic acid (NAA), giá thể và loại hom đến khả năng ra rễ, bật mầm và sinh trưởng của hom giâm cây hoa hồng cổ Hải Phòng (Rosa sp.). Kết quả cho thấy, sử dụng giá thể 25% phân rơm + 25% trấu hun + 50% xơ dừa giúp hom giâm có tỷ lệ ra rễ cao nhất (88,10%), số lượng rễ nhiều nhất (35,20 rễ), chiều dài rễ dài nhất (8,43 cm), số chồi nhiều nhất (4,50 chồi) và số lá/hom nhiều nhất (8,73 lá).
Diêm mạch (Chenopodium quinoa) là một trong những đối tượng cây trồng có giá trị kinh tế cao và được trồng trọt phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, những hiểu biết về cơ chế thích nghi của cây diêm mạch vẫn còn hạn chế do thông tin di truyền của loài mới chỉ được ghi nhận gần đây. Trong nghiên cứu này, họ protein vận chuyển đường sucrose, SWEET (Sugar Will Eventually be Exported Transporter), đã được tìm hiểu ở cây diêm mạch thông qua các công cụ phân tích tin sinh học dữ liệu lớn.
Hoa hồng (Rosa sp. - thuộc họ Rosaceae) đã được trồng từ xa xưa trên khắp thế giới với nhiều mục đích khác nhau. Hoa có giá trị biểu tượng cao và có tầm quan trọng về văn hóa trong các xã hội khác nhau xuyên suốt lịch sử loài người. Sự thuần dưỡng hoa hồng có lịch sử lâu dài và phức tạp. Nhiều loài hoa đã được lai tạo xuyên qua các vùng địa lý rộng lớn như châu Á, châu Âu và Trung Đông (Bendahmane et al., 2013). Ban đầu, hoa hồng dại được trồng phổ biến chỉ để làm hàng rào ngăn cản các loài động vật phá hoại.
Cây giống cà phê đảm bảo chất lượng là yếu tố quan trọng để tái canh thành công. Do đó, việc sử dụng các biện pháp nhiệt, hóa học, sinh học để xử lý đất trước khi vào bầu, nền đất đặt bầu và cây con trong giai đoạn vườn ươm là rất cần thiết để tránh lây lan nguồn bệnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy ngoài nguồn đất vào bầu bị nhiễm tuyến trùng và nấm thì nền đất đặt bầu cũng bị tuyến trùng và nấm xâm nhiễm khá nặng.
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) đã nhân giống thành công giống cà phê vối TR11 bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào. Sau 22 tháng từ mảnh lá tạo được cây con đủ tiêu chuẩn trồng ngoài đồng ruộng. Cây nuôi cấy mô được trồng khảo nghiệm tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk. Cây sinh trưởng và phát triển bình thường, tương tự như cây thực sinh và cây ghép về chiều cao cây, đường kính gốc, số cặp cành, số đốt...
Nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý Ethyl methanesulfonate (EMS) và tia cực tím (UV) đến khả năng tạo dòng biến dị in vitro, đồng thời đánh giá sinh trưởng, phát triển và biến dị của các dòng biến dị này trên loài cúc vàng (Chrysanthemum indicum) nhằm tạo nguồn nguyên liệu phong phú cho công tác chọn tạo giống hoa cúc mới. Trong nghiên cứu này, các chồi cúc in vitro được cắt bỏ lá, được cắt thành các mẫu có kích thước 1,0 - 1,5 (cm) mang một mắt ngủ đem ngâm vào môi trường xử lý MS lỏng có bổ sung 0,1mg/1BA và EMS vô trùng với các nồng độ khác nhau (từ 0,1% đến 0,3%) và xử lý bằng tia UV có cường độ 125μW/cm2 ứng với bước sóng 253nm với trong 8 giờ.
Nghiên cứu nhằm xác định ảnh hưởng của đèn chiếu sáng trong điều khiển ra hoa cho cây hoa cúc tại Lâm Đồng. Các loại đèn huỳnh quang 23W, đèn LED 5,7,9 và 11W được sử dụng để chiếu sáng bổ sung. Kết quả cho thấy ánh sáng đèn LED thích hợp hơn ánh sáng đèn huỳnh quang khi xử lý không cho cúc ra hoa trong điều kiện sản xuất hoa cúc thương phẩm quanh năm tại Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Công suất đèn LED 7W và đèn LED 9W thích hợp nhất khi sử dụng cho chiếu sáng bổ sung cho hoa cúc.
Ứng dụng một số biện pháp sinh học và hóa học trong phòng trừ tác nhân gây chết cà phê vối sau tái canh chỉ ra rằng: Trồng xen cây muồng hoa vàng và xử lý bột cây dã quỳ với lượng từ 20 - 40 g/hố sau 30 tháng trồng không có tác dụng hạn chế được nguồn nấm Fusarium spp. trong đất. Sử dụng chế phẩm sinh học: Tervigo 20 SC + Trico VTN cho hiệu lực phòng trừ tuyến trùng từ 30,8% - 41,18% và chế phẩm TKS - NEMA phòng trừ nấm từ 42,94% 43,29%.
Nghiên cứu sử dụng phân khoáng qua nước tưới cho cà phê vối vùng Tây Nguyên được thực hiện tại hai tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai trong 3 năm (2015 - 2017). Các thí nghiệm đồng ruộng chính quy đã được triển khai gồm: dạng phân bón (3 dạng đạm, 2 dạng lân và 1 dạng kali); liều lượng (3 mức NPK) và số lần bón (4, 6 và 8 lần). Kết quả cho thấy dạng phân khoáng được sử dụng phù hợp là urê, monokali phốt phát (MKP) và kali clorua (KCl). Lượng N, P, K tối ưu được sử dụng qua nước tưới đối với cà phê cho năng suất ≤ 3,5 tấn/ha/năm là 240 N + 120 P2O5 + 200 K2O kg/ ha/năm với 6 lần bón và đối với vườn cà phê cho năng suất > 3,5 tấn/ha/năm lượng bón là 300 N + 150 P2O5 + 250 K2O kg/ha/năm với 8 lần bón.
Sử dụng công nghệ đèn LED đã được các nhà khoa học nghiên cứu, đưa vào sử dụng trong nông nghiệp ở nhiều nước. Ở Việt Nam, việc ứng dụng công nghệ đèn đã được các nhà khoa học thực hiện trên một số loại cây trồng và mang lại hiệu quả khả quan. Nghiên cứu được thực hiện trên giống lan Hồ điệp Phal Taida salu trong năm 2016 và 2017 tại Hưng Yên.
Áp dụng kỹ thuật GIS và AHP vào việc xử lý ma trận so sánh cặp dựa trên ý kiến của 15 chuyên gia trong lĩnh vực khoa học đất, đánh giá đất đai, kinh tế nông nghiệp đã xác định được giá trị trọng số cho từng tiêu chí thích nghi của cây chôm chôm. Kết quả xác định vùng trồng chôm chôm đáp ứng điều kiện VietGAP được đề xuất như sau mức độ thích hợp cao, khá thích hợp, ít thích hợp và không thích hợp trên toàn bộ diện tích 6 phường và 9 xã (khu vực thị xã Long Khánh).
Hiện tượng bổ sung thừa dinh dưỡng cho cây cà phê đang diễn ra khá phổ biến tại các vùng trồng cà phê trọng điểm của Việt Nam. Mục tiêu của nghiên cứu này là xây dựng phần mềm quản lý dinh dưỡng cho cây cà phê trên đất đỏ bazan vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên. Để tính toán cân đối dinh dưỡng và bón phân hợp lý, các thông số tính toán được sử dụng thông qua các nghiên cứu trước đó.
Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha and Grushv) là loại thực vật quý hiếm của Việt Nam, một trong 4 loại sâm quý trên thế giới. Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu ứng dụng trên sâm, trong đó tạo rễ tóc sâm là hướng đi mới có tính chất thương mại cao. Việc tạo rễ tóc sâm Ngọc Linh ở điều kiện in vitro chứa nhiều hoạt chất saponin nhóm protopanaxadiol (PPD)
Trong nghiên cứu này, quy trình cảm ứng tạo phôi vô tính gián tiếp thông qua mô sẹo và tái sinh cây sâm Lai Châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus), một loài dược liệu quý đang bị tuyệt chủng đã được công bố thành công lần đầu tiên tại Việt Nam. Mô sẹo được tạo thành trên môi trường dinh dưỡng MS (Murashige and Skoog) có bổ sung 0,5 mg/L 2,4-D.
Trong 5 năm (từ 2012 - 2016), Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố đã tiến hành thu thập và nhập nội được 167 mẫu giống bông Luồi (Gossypium hirsutum L.); nhân lại được 1.047 mẫu giốg bông có biểu hiện suy giảm tỷ lệ nảy mầm và bảo quản an toàn nguồn gen hạt cho 2.301 mẫu hạt giống bông trong kho lạnh ngắn
hạn.
Kết quả nghiên cứu tưới nước cho vườn ca cao kinh doanh tại Đắk Lắk từ năm 2012 – 2014 cho thấy tưới nước có tác dụng tốt đến các chỉ tiêu cấu thành năng suất như tăng tỷ lệ đậu quả, tăng trọng lượng hạt và hạn chế tỷ lệ rụng quả. Công thức không tưới tỷ lệ rụng quả cao nhất (46,93%). Tưới nước cũng góp phần làm tăng số quả/cây. Công thức tưới tiết kiệm100 lít/gốc/lần với chu kỳ 15 ngày có trọng lượng hạt đạt cao nhất (132,42g/100 hạt); công thức đối chứng không tưới có trọng lượng 100 hạt là thấp nhất (122,91 g/100 hạt).
Thí nghiệm nghiên cứu hiệu quả của một số phương pháp tưới nước và bón phân đến năng suất, chất lượng mía ở vùng Đông Nam bộ được trồng trong vụ đông xuân vào tháng 10/2013 trên đất xám bạc màu tại xã Phú An, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Thí nghiệm gồm 5 công thức được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên, lặp lại 3 lần. Kết quả thí nghiệm cho thấy tưới nước ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mọc mầm, sức tái sinh, sức đẻ nhánh, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất mía. Mía được tưới cho năng suất thực thu > 105 tấn/ha và năng suất quy 10 CCS > 113 tấn/ha ở cả vụ mía tơ và gốc 1.
Với sản lượng hàng năm hơn 1,7 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 3,6 tỷ USD, cà phê được coi là một trong những cây trồng chủ lực của Việt Nam. Tuy nhiên, hệ thống sản xuất cà phê vẫn tiềm ẩn yếu tố kém bền vững do tình trạng sử dụng lãng phí và chưa hợp lý các nguồn tài nguyên và vật tư đầu vào. Vì vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện quy trình quản lý cây trồng tổng hợp cho cà phê để phổ biến ra sản xuất là rất quan trọng, đặc biệt với tình tình giá cả bấp bênh, môi trường canh tác suy thoái và chi phí sản xuất ngày càng cao.
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của bón phân N,P,K đến năng suất và khả năng hấp thu N,P,K của cây khoai lang trồng trên đất phèn ở Long Mỹ, Hậu Giang vào vụ Đông Xuân 2015 - 2016. Thí nghiệm một nhân tố được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại trên diện tích lô thí nghiệm là 10 m2 (dài 10 m x 1 m).
Định hướng chung lai tạo giống mía mới tại Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 là lai tạo giống mía có khả năng thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu, cho năng suất và chất lượng mía cao, vượt từ 10% trở lên so với bình quân của vùng, góp phần đưa năng suất bình quân cả nước lên 72 tấn/ha, chữ đường đạt 10,5 CCS, tỷ lệ diện tích giống mía mới Việt Nam lên 20% vào năm 2020
Trong các loại hoa được trồng phổ biến, hoa lan được biết đến như một loài hoa không chỉ ở vẻ đẹp, hương thơm, màu sắc đa dạng mà còn có giá trị kinh tế cao. Đến nay loài người đã biết được trên 750 chi với 35000 loài lan tự nhiên và 75000 giống lan do kết quả chọn lọc và lai tạo.
Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 02 năm 2015 nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh học của sâu đục trái Tirathaba sp. (Lepidoptera: Pyralidae) gây hại trên chôm chôm tại tỉnh Tiền Giang, tại Viện cây ăn quả miền Nam và xã Tân Phong, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Kết quả thí nghiệm thu được là có 5 loài sâu đục trái tấn công trên chôm chôm tại tỉnh Tiền Giang. Trong đó loài gây hại phổ biến nhất là loài Tirathaba sp. đây là loài sâu đục trái mới được ghi nhận.
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 09 năm 2013 đến tháng 09 năm 2014 nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh học của sâu đục trái bưởi Citripestis sagittiferella tại Viện cây ăn quả miền Nam và tại xã Mỹ Lợi A, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Kết quả ghi nhận thành trùng sâu đục trái bưởi Citripestis sagittiferella có màu vàng xám đến nâu đậm. Con đực có râu hình răng lược còn con cái có râu hình sợi chỉ. Trứng có hình oval, màu trắng hơi phồng lên rồi chuyển sang màu hồng.
Đề tài được nghiên cứu từ tháng 11/2013 – 12/2014 với các nội dung: Kgảo sát diễn biến quần thể sâu đục trái Citripestis sagitiferella trên hai giống bưởi da xanh và long cổ cò tại tỉnh Tiềng Giang. Ảnh hưởng của các loại bao trái khác nhau đến khả năng gây hại của sâu đục trái bưởi.
Nấm là thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, chứa nhiều protein, nhiều loại vitamin như vitamin B1, B2, PP,… và các axit amin thiết yếu, không gây xơ cứng động mạch và không làm tăng lượng cholesterol trong máu. Nấm còn có nhiều tác dụng dược lý khá phong phú như: tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, kháng ung thư và kháng virus, ngăn ngừa và trị liệu các bệnh tim mạch, hạ đường máu, chống phóng xạ.
Đồng Tháp Mười (ĐTM) có diện tích tự nhiên là 696.949 ha, gồm 5 nhóm đất chính: đất phù sa chiếm 34,71%, đất xám 16,10%, đất cát 0,51%, đất than bùn 0,02%, đất phèn 39,27% (Phan Liêu, 1998). Trong đó, đất xám có tiềm năng rất lớn về quy mô diện tích và tính phù hợp trong việc sắp xếp mùa vụ luân canh vừng với lúa. Phân tích tổng hợp các yếu tố tiềm năng về khí hậu, đất đai, nguồn lao động…nơi đây có thể trở thành vùng sản xuất vừng lớn theo hướng hàng hóa của vùng.
Phân lân là một loại phân đa lượng có ý nghĩa quan trọng đối với vừng, giúp cây sinh trưởng phát triển bộ rễ, thân và đặc biệt là quá trình ra hoa và đậu trái, nâng cao chất lượng hạt. Tuy nhiên, là cây trồng cạn, thời gian sinh trưởng ngắn nên vừng cần được quan tâm đến loại phân lân dễ tiêu, chứa nhiều chất dinh dưỡng khác để cung cấp kịp thời cho cây. Trong thực tế, người dân phổ biến dùng DAP để cung cấp lân cho cây. Với thành phần chủ yếu là đạm (18%), lân (46%) và là loại phân dễ tan, dễ bón nên phân DAP bước đầu được ưu tiên sử dụng.
Các nghiên cứu về mật độ gieo thường khuyến cáo theo số lượng giống gieo trên đơn vị diện tích, tuy nhiên đặc biệt đều chú trọng đến khoảng cách xác lập cuối thời kỳ cây con. Theo Pornparn (2001), lượng hạt giống vừng được gieo sạ ở Thái Lan khá cao từ 6-12 kg/ha nhưng sau khi tỉa định cây chỉ để khoảng 200.000 cây/ha. Ở Mỹ, mật độ trồng được khuyến cáo từ 600.000 - 720.000 cây/ha áp dụng cho phương pháp gieo bằng máy.
Vừng (Sesamum indicum L.) là cây thân thảo hàng năm, được trồng ở Việt Nam từ rất lâu đời. Vừng có tính chịu hạn, thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, đất đai nên có vùng phân bố rộng khắp cả nước. Hạt vừng có nhiều giá trị dinh dưỡng, đặc biệt hàm lượng dầu cao trong hạt (50 tới trên 60 %), chất lượng dầu tốt và có chứa các chất chống oxy hóa. Hiện tại cây vừng được trồng rộng rãi trên thế giới như: Trung Quốc, Ấn Độ, các nước Châu Phi, Mỹ và các nước Nam Mỹ.












