Vừng (Sesamum indicum L.) là cây thân thảo hàng năm, được trồng ở Việt Nam từ rất lâu đời. Vừng có tính chịu hạn, thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, đất đai nên có vùng phân bố rộng khắp cả nước. Hạt vừng có nhiều giá trị dinh dưỡng, đặc biệt hàm lượng dầu cao trong hạt (50 tới trên 60 %), chất lượng dầu tốt và có chứa các chất chống oxy hóa. Hiện tại cây vừng được trồng rộng rãi trên thế giới như: Trung Quốc, Ấn Độ, các nước Châu Phi, Mỹ và các nước Nam Mỹ.
Mè (Sesamum indicum L.) còn gọi là vừng, là loại cây có dầu, cây thực phẩm hiện đang được rất nhiều quốc gia quan tâm và có định hướng phát triển do có hàm lượng dầu cao, chất lượng tốt. Cây mè có thời gian sinh trưởng ngắn, thuận lợi trong tiêu dùng ở phạm vi nông hộ, đồng thời cũng là cây trồng “dễ tính”, ít đòi hỏi thâm canh, có khả năng tận dụng đất đai, mùa vụ, dễ tiêu thụ trên thị trường, thích hợp luân, xen canh và gối vụ.
Với những lợi thế đất đai, thời tiết khí hậu và hiệu quả kinh tế so với một số ngành nghề khác, nghề trồng dâu nuôi tằm đã được mở rộng và phát triển một cách đáng kể. Tuy nhiên, đi đôi với việc mở rộng diện tích, đầu tư thâm canh đưa các giống dâu mới năng suất cao chịu phân bón vào sản xuất đại trà đã dẫn đến sự bùng phát và gây hại nghiêm trọng của một số loài sâu bệnh như: Sâu cuốn lá dâu, sâu khoang, sâu róm....
Bưởi Đường lá cam là giống bưởi ngon, được trồng phổ biến ở Đồng Nai và một số tỉnh miền Đông Nam bộ. Đây là giống đã đạt nhiều giải trong các kỳ hội thi trái ngon. Cây đầu dòng, cá thể mang mã số BC12 của giống này đã được BộNông nghiệp & PTNT công nhận theo Quyết định số2767/NN - KHCN/QĐ, ngày 29/10/1997.
Cây bơ là loài cây hai lá mầm, tên khoa học là Persea americana Mills. thuộc họLauraceae (long não), nguồn gốc vùng nhiệt đới Trung Mỹ và đã được phát tán tới phía Nam nước Mỹ, tới quần đảo Antilles và nhiều quốc gia khác như: Colombia, Venezuela,... Có liên quan đến họ này là cây quế (Cinanmon), cây dẻ(Sasafras) và cây hồng ngọt (Sweet bay).
Bưởi da xanh là loại trái cây đặc sản nổi tiếng ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và được phát triển tại nhiều vùng sinh thái khác nhau do hiệu quả kinh tế mang lại cao. Tuy nhiên, nguồn nước bị nhiễm mặn đang là trở ngại lớn cho việc phát triển cây bưởi vùng ĐBSCL. Đối với đất bị nhiễm mặn thì việc cải tạo đất và cải thiện chất lượng nguồn nước tưới luôn là biện pháp canh tác quan trọng nhưng không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả kinh tế.
Theo Hiệp hội Cao su Việt Nam cho biết, hiện cao su là mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam (sau gạo). Riêng năm 2006, cao su thiên nhiên xuất khẩu của Việt Nam (bao gồm cảnguồn cao su thiên nhiên nhập khẩu từ các nước láng giềng) đã đạt sản lượng gần 708.000 tấn, với tổng giá trị xấp xỉ 1,3 tỷUSD.
Cà phê là cây công nghiệp chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam. Theo báo cáo của Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam, hiện nay cả nước có khoảng 500.000 ha cà phê vối Robusta và 20.000 ha cà phê chè Catimor. Trước đây, do chú trọng về năng suất, sản lượng nên chất lượng cà phê vối ít được chú ý, các dòng vô tính đã được công nhận giống chính thức có năng suất khá cao (trên 4 tấn nhân/ha) nhưng khối lượng 100 hạt trung bình 14,5 g chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu cải thiện phẩm cấp hạt cà phê nhân xuất khẩu.
Macadamia là cây nguyên sản của Úc, thuộc họ Proteaceae là cây lấy quả nổi tiếng đang trở thành cây công nghiệp quan trọng trên thế giới. Hạt Macadamia được mệnh danh là Hoàng hậu trong các loại hạt ăn được do chứa hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao như chất béo, đường, protein, vitamin và nhiều chất khác. Đặc biệt là hàm lượng acid béo không no trong dầu Macadamia lên tới 84%, đây là thứ chất béo mà thế giới hiện đại rất coi trọng vì ít dẫn tới nguy cơ tích tụ cholesterol trong cơ thể con người.
Hoàng Su Phì là huyện thuộc vùng núi cao của tỉnh Hà Giang đã có giống chè Shan bản địa được trồng từ rất lâu đời, do tập quán kỹ thuật canh tác chè đơn giản, thường không bón phân, chỉ khai thác tựnhiên, và không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nên có lợi thế tạo ra sản phẩm chè chất lượng cao và an toàn.
Ve sầu đã trở thành dịch hại trên cà phê ở các tỉnh Tây Nguyên từ năm 2006, hàng năm có hàng ngàn hecta cà phê đang trong thời kỳ cho quả bị ve sầu hại. Để trừ ve sầu người trồng cà phê đã sử dụng nhiều loại thuốc hoá học với liều lượng cao gấp từ 2 - 3 lần so với khuyến cáo
Cây có múi (cam, quýt, bưởi, chanh) là cây ăn trái chính và đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều lợi thế trong phát triển sản xuất cây có múi như đất đai màu mỡ, nguồn nước tưới phong phú
Ruồi hại quả họTephritidae có số lượng loài rất phong phú (gần 4500 loài), nhiều loài là đối tượng gây hại nghiêm trọng trên các loại cây ăn quả và rau ăn quả ở tất cả các nước trên thế giới, trong đó khu vực Thái Bình Dương có 20 loài,
Khoai môn sọ là loại cây có củ được trồng ở hầu hết các vùng sinh thái và trở thành đặc sản quý của một số địa phương,với nhiều giống nổi tiếng như khoai môn Lệ Phố, khoai sọ Thuận Châu, khoai môn Tàu Bắc Kạn, khoai Mán Vàng... Tuy nhiên, hiện nay chưa có tỉnh nào trồng khoai môn sọ đại trà với quy mô sản xuất lớn. Nguyên nhân là do các giống khoai môn sọ địa phương cho năng suất không cao, thời gian sinh trưởng dài, dễ bị sâu bệnh hại, ngủ nghỉ ngắn, rất khó để giống, hệ số nhân giống rất thấp.
Lan hồ điệp (Phalaenopsis) ngày càng được người tiêu dùng biết đến bởi vẻ đẹp của hoa, màu sắc đa dạng, hoa bền lâu. Những năm qua hoa lan hồ điệp được tiêu thụ rất mạnh ở các đô thị, thành phố lớn, chỉ tính riêng năm 2009 số lượng lan hồ điệp được tiêu thụ khoảng 50 - 60 vạn cây.
Trong những năm qua tốc độ phát triển cây hoa cúc ở nước ta rất lớn, đã đóng góp một nguồn thu không nhỏ cho các hộ trồng hoa. Tuy nhiên sản xuất hoa cúc ở ta còn nhiều hạn chế về năng suất cũng như chất lượng hoa, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường, việc sản xuất luôn ở trong tình trạng không cân đối, sản phẩm thường tồn đọng vào ngày thường và đắt trong những dịp lễ tết, nên một trong những bí quyết hiện nay để sản xuất hoa cúc là vấn đề rải vụ và điều khiển ra hoa vào các dịp lễ tết.
Hạt ca cao là một nguồn nguyên liệu để tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao, đó chính là chocolate, các loại bột ca cao... và rõ ràng chất lượng cũng như những nét đặc trưng của các sản phẩm này không những phụ thuộc vào công nghệ sản xuất mà còn phụ thuộc vào chất lượng của nguồn nguyên liệu. Hạt ca cao có chất lượng tốt khi tất cả các chỉ tiêu chất lượng đều đảm bảo theo một tiêu chuẩn nhất định, đó chính là hàm lượng bơ cao, hạt lên men hoàn toàn, chỉ số pH cao v.v...
Ca cao là cây lâu năm, phần thu hoạch là trái. Gieo hạt trực tiếp trong vườn ươm trong túi nilon (cao 25 cm, đường kính 12 cm), thường sắp xếp thành hàng kép dưới bóng râm. Sau 7-8 tháng đem trồng ngoài vườn. Cây cho hoa hữu hiệu đầu tiên sau 18-24 tháng trồng (hoa xuất hiện trên thân chính và các nhánh lớn). Sự ra hoa trên thực tế là liên tục, nhưng những thời kỳ thụ phấn thích hợp xẩy ra khoảng 2 tháng sau khi bắt đầu mùa mưa. Những quả non gọi là cherelles khi mới hình thành và gọi là quả (pods) khi chín.
Giống lan Hồ Điệp tiêu thụ tại Việt Nam đa số có nguồn gốc ngọai nhập, kém thích nghi với khí hậu vùng Đông Nam bộ. Vật liệu lai tạo gồm 20 giống lan Hồ Điệp nhập nội và 2 giống lan hoang dại bản địa (tiểu Hồ Điệp – Phal. pulcherrima). Kết quả có 9 tổ hợp lai phát triển thành cây, trong đó 7 tổ hợp lai có hoa, 2 tổ hợp lai giữa giống lai và lan hoang dại không cho hoa.
Hoa lily là một trong những loại hoa cắt cành đang được ưa chuộng tại Việt Nam. Từ đầu năm 2002-2005, Viện Nghiên cứu Rau quả đã phối hợp với Viện Di truyền Nông nghiệp nhập nội, khảo nghiệm một số giống hoa lily. Tuy nhiên hiện tại chủng loại giống hoa lily thích hợp trồng tại miền Bắc vẫn còn rất ít, nguồn giống chưa chủ động được, hàng năm vẫn phải nhập nội từ Hà Lan, Trung Quốc nên giá thành củ giống cao, bấp bênh cho sản xuất. Để khắc phục tồn tại trên đồng thời đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và thực tiễn sản xuất, năm 2008 chúng tôi tiến hành đề tài: Tuyển chọn và xây dựng quy trình nhân giống hoa lily Manissa.
Cây bông Gossypium L. bao gồm 45 loài lưỡng bội và 5 loài tứ bội (Fryxell, 1992). Bông lưỡng bội chia làm 8 bộ gen, được ký hiệu từ A đến G và K (Beasley, 1940; Wendel và Cronn, 2003) với số lượng nhiễm sắc thển = 13. Cho đến nay, có 4 loài bông được trồng lấy sợi: Hai dạng nhị bội (bông cỏ) (2n = 2x = 26): G. arboreumvà G. herbaceumvà hai dạng tứ bội (2n = 2x = 52): G. hirsutum (bông luồi) và G. barbadense (bông hải đảo). Trong đó, bông cỏ G. arboreumcó bộ gen lưỡng bội AA có các đặc tính nông sinh học tốt như chín sớm, độ bền xơ, hàm lượng dầu cao, có khả năng chống chịu điều kiện bất lợi, kháng sâu bệnh tốt... Vì thế, đây là nguồn gen được các nhà chọn giống quan tâm (Ma, 2008).
Đất xám là nhóm đất chính ở Đồng Tháp Mười, chiếm 16,10% tổng diện tích. Phần lớn trên đất này chỉ sản xuất 2 vụ lúa Đông Xuân -lúa Hè Thu. Thời gian đất bỏ hóa giữa 2 vụ khoảng 70 - 90 ngày. Mè là cây trồng cạn ngắn ngày, luân canh tăng vụ tốt trong cơ cấu lúa Đông Xuân - mè Xuân Hè - lúa Hè Thu và hiệu quả kinh tế tăng khoảng 30% so với độc canh lúa Đông Xuân - lúa Hè Thu.
Vừng là loại thực phẩm chứa nhiều dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe. Hàm lượng dầu trong hạt vừng rất cao (45-55 %), chỉ số iot trong dầu vừng đạt 111, hàm lượng vitamin E và can xi cao. Thành phần axit hữu cơ của dầu vừng chứa nhiều xít béo chưa no oleic (C18H34O2) và linoleic (C18H32O2), trong dầu vừng còn chứa các chất sesamolin, antioxidants và sesamin là chất ngăn cản quá trình oxy-hóa, vì thế ngoài giá trị làm thực phẩm, dầu vừng còn để chữa bệnh, sản xuất mỹ phẩm.
Giống hoa cúc cắt cành C07.7 được chọn lọc từ tổ hợp lai Chevrolet x C05.5, C07.16 từ tổ hợp lai C05.1 x Sunny Yellow, năm 2007, trong điều kiện Đà Lạt. Các khảo nghiệm chính quy tiến hành trong vụ Đông Xuân 2008-2009 và Hè Thu 2009 cho thấy C07.7 và C07.16 là những giống có nhiều triển vọng do có hoa đẹp, khả năng thích ứng tốt với điều kiện địa phương và khả năng chống chịu tốt với ruồi đục lá và rỉ sắt trắng.
Long An là tỉnh thuộc vùng Đồng Tháp Mười, có diện tích đất phèn chiếm 55,47%, là tỉnh có diện tích trồng đay lớn nhất cả nước (năm 2006 diện tích đay của tỉnh Long An chiếm 64,6% diện tích đay cả nước). Song sản xuất đay luôn thiếu ổn định do giá bán đay tăng giảm thất thường.












