Tài liệu tham khảo
Lập bản đồ và hệ vô tính của qtl protein hạt chính trên chromosome 20 cây đậu tương
Thứ bảy, 26/02/2022 | 05:08:34

Đậu tương [Glycine max (L.) Merr.] là một loài cây trồng độc đáo vì nó có hàm lượng protein và dầu cao trong hạt của nó. Trong số nhiều locus tính trạng số lượng (QTL) kiểm soát hàm lượng protein hạt đậu tương, các alen của protein cqSeed-003 QTL trên nhiễm sắc thể 20 có tác dụng phụ lớn nhất.

XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ VÀ SẢN XUẤT NÔNG SẢN SẠCH TẠI VIỆT NAM
Thứ ba, 22/02/2022 | 09:53:04

Nông nghiệp hữu cơ là một phương pháp sản xuất mà quản lý trang trại và môi trường trong trang trại như một hệ thống đơn lẻ. Nó sử dụng cả kiến thức khoa học và truyền thống để làm tăng sức mạnh cho hệ sinh thái nông nghiệp. Trang trại hữu cơ chú trọng vào việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vùng và việc quản lý hệ sinh thái hơn là những đầu tư từ bên ngoài như phân khoáng và các hoá chất nông nghiệp.

Phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới – chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam
Thứ ba, 22/02/2022 | 09:52:55

Mặc dù thương mại toàn cầu đang bị suy thoái: Khu vực hữu cơ tiếp tục tăng trưởng và làm tốt hơn hầu hết các lĩnh vực thực phẩm nông nghiệp khác; thông tin thị trường từ hầu hết các nước trên thế giới đang chỉ ra xu thế nhất quán của ngành công nghiệp tăng trưởng và năng động; khu vực hữu cơ được xác nhận đạt giá trị hơn 62,9 tỷUSD trên toàn cầu năm 2011.

Nông nghiệp hữu cơ hay hữu cơ hóa nông nghiệp
Thứ ba, 22/02/2022 | 09:52:44

Trên quan điểm so sánh những ưu và nhược điểm của nền nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp hóa học để có cách lựa chọn nên ưu tiên loại hình nào cho phù hợp với thực trạng một nền kinh tế nông nghiệp của đất nước. Tác giả cho rằng nông nghiệp hữu cơ thực chất là cốt lõi của nền nông nghiệp truyền thống nhưng có hỗ trợ của các yếu tố kỹ thuật tiên tiến của nhiều ngành khoa học nên có tiến bộ hơn nền nông nghiệp truyền thống. Kể từ khi xuất hiện mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ vào năm 1940, cho đến nay về diện tích mới chỉ đạt được khoảng 1-2% tổng số diện tích canh tác của toàn thế giới và cũng mới cung cấp cho khách hàng khoảng 1% sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.

Nông nghiệp hữu cơ: hiện trạng và giải pháp nghiên cứu-phát triển
Thứ ba, 22/02/2022 | 09:21:48

Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống canh tác đã gây nên sự chú ý ngày càng tăng ở nhiều quốc gia trong 2 thập kỷ qua, nhất là các nước phát triển, khi mà áp lực về lương thực giảm đi, song áp lực về vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng nông sản và môi trường lại tăng lên. Nhiều nước ở châu Âu, Bắc Mỹ, châu Đại dương đã khuyến khích nông dân áp dụng nông nghiệp hữu cơ. Tuy nhiên ở nhiều quốc gia khác, nông nghiệp hữu cơ là câu chuyện còn rất mới mẻ, khái niệm về loại hình canh tác này được hiểu rất khác nhau.

Tuyển chọn chủng vi sinh vật đối kháng vi khuẩn và nấm gây bệnh đốm lá trên cây hoa hồng
Thứ sáu, 11/02/2022 | 14:55:41

Mục đích nghiên cứu này là tuyển chọn các chủng vi sinh vật đối kháng mạnh với tác nhân gây bệnh đốm lá trên cây hoa hồng. Từ bộ sưu tập 183 chủng vi sinh vật, 3 chủng đối kháng mạnh nhất được xác định gồm BST, HD-V22, HD-N12 với đường kính vòng đối kháng chủng kiểm định Pseudomonas sp. HDB-V11 lần lượt là 17,4; 17,9 và 18,1 mm và hiệu lực đối kháng chủng kiểm định Colletotrichum sp. HDT-N28 lần lượt là 79,6; 77,7 và 75,85%. Ba chủng này không đối kháng lẫn nhau và có tiềm năng ứng dụng cao.

Phân lập và khảo sát đặc tính kích thích sinh trưởng thực vật của một số chủng vi khuẩn nội sinh từ rễ cây sú
Thứ năm, 10/02/2022 | 07:04:20

Vi sinh vật nội sinh đóng vai trò quan trọng giúp cây lấy dinh dưỡng từ môi trường, cố định dinh dưỡng từ hoạt động cộng sinh và sản xuất các chất kích thích sinh trưởng thực vật. Nghiên cứu được tiến hành với mục đích tuyển chọn và đánh giá khả năng tổng hợp IAA, phân giải phosphate khó tan, và sinh siderophore của một số chủng vi khuẩn nội sinh phân lập từ rễ cây sú được thu thập tại cồn Lu, xã Nam Điền, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Kết quả đã phân lập được 10 chủng vi khuẩn nội sinh ký hiệu từ RS4 - RS10, có khả năng sinh IAA với hàm lượng từ 3,01 đến 47,20 µg/mL.

Nguyên tắc cơ bản trong xây dựng mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ hiệu quả rau an toàn
Thứ năm, 10/02/2022 | 07:00:07

Trên cơ sở nghiên cứu về lý thuyết, các văn bản và thực tế có liên quan của các mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản nói chung và rau an toàn (RAT) nói riêng đã rút ra được 5 nguyên tắc cơ bản trong xây dựng mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ RAT hiệu quả. Đó là các tác nhân tham gia liên kết đều phải: (1) Chấp hành đầy đủ các quy định và hướng dẫn của các văn bản hiện hành; (2) Thực hiện quản lý ATTP theo chuỗi giá trị; (3) Xây dựng các quy định liên kết nhằm đảm bảo thể chế chính sách của Nhà nước và quy định quản lý hợp lý, chặt chẽ;

Đánh giá hiệu quả của tuyến trùng ký sinh côn trùng Heterorhabditis indica trong phòng chống bọ nhảy hại rau thập tự
Thứ năm, 10/02/2022 | 06:52:15

Bọ nhảy Phyllotreta striolata Fabricius [Coleoptera: Chrysomelidae: Alticinae] là sâu hại quan trọng trên các loài rau họ thập tự (Cruciferae. Bọ nhảy trưởng thành gây hại bộ phận trên mặt  đất, tạo ra những lỗ thủng trên lá từ giai đoạn cây con cho đến khi thu hoạch (Knodel & Olson, 2002). Trong đó giai đoạn cây con nếu bọ nhảy hại nặng, mật độ bọ nhảy cao, toàn bộ bộ lá sẽ có thể bị cắn trụi, cây con bị chết nếu không được phòng chống kịp thời.

Một số nghiên cứu về xác định Biotype của Bọ phấn trắng Thuốc lá Bemisia tabaci truyền bệnh virus khảm lá sắn tại Việt Nam
Thứ năm, 10/02/2022 | 06:44:35

Sắn (Manihot esculenta Crantz), thường được trồng để lấy tinh bột, là nguồn thực phẩm chính cho gần một tỷ dân số ở 105 quốc gia. Cây sắn đứng thứ 3 sau lúa và ngô về nguồn cung cấp hàm lượng carbohydrate cao, và là nguồn nguyên liệu thô phục vụ các ngành công nghiệp chế biến cơ bản (http://www.fao.org/ newsroom/en/news/2008/1000899/index.html).

Diễn biến mật độ quần thể bọ phấn trắng Bemisia tabaci (Hemiptera: Aleyrodidae) trên cây sắn và hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật Population Dynamic of Whitefly Bemisia tabaci (Hemiptera: Aleyrodidae) on Cassava and Efficacy of Some Pesticide
Thứ năm, 10/02/2022 | 06:41:18

Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) là nguồn nguyên liệu quan trọng sử dụng trong sản xuất tinh bột, thức ăn gia súc, bột ngọt và Ethanol. Trên thế giới đã phát hiện gần 50 loại bệnh trên cây sắn gây ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng sản phẩm sắn; trong đó, bệnh khảm lá sắn (Cassava mosaic virus disease-CMD) là bệnh hại nguy hiểm. Nếu nhiễm bệnh vào giai đoạn đầu có thể làm giảm đến năng suất đến 90%, thậm chí không cho thu hoạch.

Một số kết quả nghiên cứu về giải pháp sử dụng hom giống trong phòng chống bệnh khảm lá sắn tại Việt Nam
Thứ năm, 10/02/2022 | 06:36:33

Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) là loại cây trồng có củ quan trọng đối với Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ, đứng thứ 3 sau lúa và ngô về nguồn cung cấp hàm lượng carbohydrate cao, và là nguồn nguyên liệu thô phục vụ các ngành công nghiệp chế biến cơ bản. Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT giữa tháng 6/2019 tổng diện tích sắn của cả nước là 360 nghìn ha thấp hơn khoảng 17,6 nghìn ha so với cùng kì năm 2018.

Đánh giá hiệu quả giảm phát thải khí nhà kính khi áp dụng kỹ thuật 1P5G và 3G3T trên ruộng lúa 3 vụ ở một số tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long
Thứ năm, 10/02/2022 | 06:31:54

Nghiên cứu đo đạc và đánh giá phát thải khí nhà kính (KNK) tại các mô hình canh tác lúa bền vững theo các kỹ thuật 1 phải 5 giảm (1P5G) và 3 giảm 3 tăng (3G3T) được thực hiện trên đất canh tác 3 vụ lúa tại 3 tỉnh An Giang, Cần Thơ và Kiên Giang thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy các mô hình canh tác 1P5G và 3G3T đã cắt giảm hiệu quả phát thải KNK so với canh tác theo truyền thống của người dân. Mô hình 1P5G có hiệu quả cắt giảm phát thải KNK cao hơn so với mô hình 3G3T.

Sử dụng phương pháp nuôi cấy trên lá trong chọn giống đậu tương kháng Cercospora Kikuchii
Thứ bảy, 15/01/2022 | 06:02:56

Bệnh cháy lá Cercospora (CLB) gây thiệt hại trên diện rộng trong sản xuất đậu tương trên toàn thế giới, bao gồm cả các nước sản xuất đậu tương lớn như Argentina. Cercospora kikuchii, C. cf. sigesbeckiae, C. cf. flagellarisC. cf. nicotianae được xác định là mầm bệnh của CLB. Khả năng kháng CLB của đậu tương vẫn chưa được biết rõ. Ngoài ra, việc kiểm soát hóa chất đối với CLB đang mất hiệu quả vì khả năng kháng thuốc diệt nấm của các mầm bệnh như C. kikuchii. Chúng tôi cấp thiết chọn tạo giống kháng CLB. Đáng tiếc, các phương pháp hiệu quả để sàng lọc kiểu gen đậu tương kháng thuốc vẫn chưa được thiết lập.

Phân lập, tuyển chọn và định danh vi khuẩn Bacillus từ đất trồng đinh lăng có hoạt tính đối kháng vi khuẩn Erwinia carotovora gây bệnh thối nhũn
Thứ ba, 28/12/2021 | 08:31:06

Nghiên cứu nhằm phân lập, tuyển chọn và định danh vi khuẩn Bacillus từ đất trồng Đinh lăng có khả năng  đối kháng vi khuẩn Erwinia carotovora gây bệnh thối nhũn. Từ 30 mẫu đất vùng rễ cây Đinh lăng trồng tại  huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đã phân lập được 189 chủng vi khuẩn có khả  năng tồn tại ở nhiệt độ  100oC  trong 10 phút. Trong đó đã tuyển chọn được 9 chủng có khả năng đối kháng vi khuẩn Erwinia  carotovora M4  gây thối rễ, củ cây Đinh lăng với đường kính vòng vô khuẩn lớn hơn 16 mm.

Nghiên cứu nhóm gen quy định protein vận chuyển đường sucrose ở cây diêm mạch (Chenopodium quinoa) bằng công cụ tin sinh học dữ liệu lớn
Thứ ba, 21/12/2021 | 19:19:03

Diêm mạch (Chenopodium quinoa) là một trong những đối tượng cây trồng có giá trị kinh tế cao và được trồng trọt phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, những hiểu biết về cơ chế thích nghi của cây diêm mạch vẫn còn hạn chế do thông tin di truyền của loài mới chỉ được ghi nhận gần đây. Trong nghiên cứu này, họ protein vận chuyển đường sucrose, SWEET (Sugar Will Eventually be Exported Transporter), đã được tìm hiểu ở cây diêm mạch thông qua các công cụ phân tích tin sinh học dữ liệu lớn.

Ước lượng hàm lượng lân hữu dụng và đạm tổng số dựa vào hàm lượng các bon hữu cơ trong đất
Thứ năm, 16/12/2021 | 08:14:16

Nghiên cứu nhằm ước lượng hàm lượng lân (P) hữu dụng và đạm (N) tổng số trong một số nhóm đất chính trồng lúa ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) dựa vào hàm lượng các bon hữu cơ (OC) có trong đất. Nghiên cứu được thực hiện trên ba nhóm đất, bao gồm phèn, phù sa và nhiễm mặn đang canh tác lúa ở vùng ĐBSCL. Thời gian thu mẫu và phân tích được thực hiện từ tháng 12/2016 đến tháng 3/2017. Mỗi nhóm đất thu 40 mẫu ở độ sâu 0 - 20 cm. Kết quả cho thấy, dựa vào OC có trong đất có thể xác định được hàm lượng P hữu dụng và N tổng số trong đất.

Lập bản đồ locus tính trạng số lượng về tính chịu ngập úng ở giai đoạn đầu của quần thể dòng tái tổ hợp đậu tương
Thứ ba, 14/12/2021 | 08:23:28

Căng thẳng do ngập lụt làm giảm năng suất đậu tương đáng kể. Giai đoạn đầu của đậu tương ở Hàn Quốc trùng với mùa mưa, có khả năng gây ra ngập úng. Các thí nghiệm trong nhà kính được thực hiện để lập bản đồ locus các tính trạng số lượng (QTL) về khả năng chịu ngập úng ở đậu tương để điều tra và xác định các gen ứng viên gần các điểm nóng QTL. Căng thẳng ngập úng được áp dụng ở giai đoạn V1 – V2 trên quần thể dòng lai tái tổ hợp (Paldalkong × NTS1116), hàm lượng diệp lục lá (CC) và khối lượng thân khô (DW) được đo ở đối chứng và ngập.

Lập bản đồ qũy tích các tính trạng số lượng về khả năng chịu hạn trong quần thể dòng lai tái tổ hợp đậu tương
Thứ năm, 09/12/2021 | 08:36:21

Cải thiện khả năng chịu hạn của đậu tương có thể là một cách hiệu quả để giảm thiểu việc giảm năng suất ở các vùng thường xuyên bị hạn hán. Việc xác định quỹ tích các tính trạng số lượng (QTLs) liên quan đến khả năng chịu hạn rất hữu ích để tạo điều kiện phát triển các giống chịu được điều kiện bất thuận. Nghiên cứu này nhằm xác định các QTL về khả năng chịu hạn ở đậu tương bằng cách sử dụng quần thể dòng lai tái tổ hợp (RIL) được phát triển từ phép lai giữa giống cây PI416937 chịu hạn và cây trồng Cheonsang mẫn cảm.

Lập bản đồ QTL và phân tích gen ứng cử viên cho tính chống chịu tách quả ở đậu tương (GLYCINE MAX)
Thứ hai, 06/12/2021 | 08:54:13

Tách quả là một quá trình sinh sản quan trọng ở nhiều loài hoang dã. Tuy nhiên, vỏ quả bị vỡ ở giai đoạn chín có thể làm giảm năng suất nghiêm trọng. Mục tiêu của nghiên cứu này là phát hiện ra các locus tính trạng số lượng (QTL) đối với hiện tượng tách quả bằng cách sử dụng hai quần thể dòng lai tái tổ hợp (RIL) có nguồn gốc từ một giống cây ưu tú có khả năng chịu tách quả, cụ thể là Daewonkong và để dự đoán QTL/gen ứng cử viên mới liên quan trong vỏ quả bị vỡ dựa trên các mẫu alen của chúng.

Xác định QTL cho khả năng chống chịu với ngập úng ở giai đoạn cây con của đậu tương (Glycine max L. MERR.)
Thứ năm, 02/12/2021 | 08:31:21

Căng thẳng do ngập úng là một vấn đề nghiêm trọng trong sản xuất đậu tương, làm giảm năng suất đáng kể. Mùa mưa bắt đầu trong thời kỳ sinh trưởng sớm của đậu tương ở Hàn Quốc và một số nơi khác trên thế giới có khả năng khiến cây đậu tương bị ngập úng. Mục tiêu của nghiên cứu này là lập bản đồ các locus tính trạng số lượng (QTL) cho khả năng chịu ngập bằng cách sử dụng quần thể dòng lai tái tổ hợp (RIL) có nguồn gốc từ sự lai tạo giữa các giống Danbaekkong (chịu ngập) và NTS1116 (mẫn cảm với ngập) trồng trong nhà nhựa trong hai năm.

Quản lý tổng hợp nguồn đất, nước và dinh dưỡng cho sản xuất cây trồng trên đất cát vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ
Thứ ba, 30/11/2021 | 07:26:07

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam (DHNTB) có khoảng 339.000 ha đất cát với đặc thù hàm lượng sét thấp, CEC thấp, độ chua cao, hợp chất hữu cơ thấp, khả năng giữ nước và giữ phân kém, nghèo kiệt dinh dưỡng nên năng suất cây trồng rất thấp. Các nghiên cứu của dự án ACIAR ở vùng này đã xác định, đất cát vùng DHNTB bị thiếu hụt một số loại dinh dưỡng điển hình như đa lượng, trung lượng (K, S) và vi lượng (B, Cu). Để bổ sung cho sự thiếu hụt này, thì cần bón bổ sung 90 kg K/ha, 30 kg S/ha, 0,25 kg B/ha và 2,5 kg Cu/ha.

Phân tích các gen biểu hiện khác biệt trong mô lá đậu tương của các giống chống chịu và mẫn cảm với ngập úng đã biểu hiện bằng cách giải trình tự RNA
Thứ hai, 29/11/2021 | 08:47:03

Ngập úng làm giảm năng suất đậu tương nghiêm trọng trên toàn thế giới. Sự phát triển của các giống cây trồng chịu được căng thẳng có thể một biện pháp hữu hiệu để giảm bớt tác động tiêu cực của ngập úng. Thông tin phân tử về biểu hiện các kiểu gen chống chịu và nhạy cảm với ngập úng có giá trị để cải thiện khả năng chống chịu ngập úng của cây đậu tương.

Ảnh hưởng của vi nhũ chitosan-dầu neem đến sâu khoang hại rau (Spodoptera litura) trong phòng thí nghiệm
Thứ sáu, 26/11/2021 | 11:00:06

Thuốc trừ sâu có nguồn gốc hóa học từ lâu đã được sử dụng phổ biến trong nông nghiệp vì hiệu quả tác động nhanh, giá thành rẻ và dễ sử dụng. Tuy nhiên, thuốc hóa học lại bộc lộ nhiều yếu điểm như khó phân hủy, để lại nhiều dư lượng trong đất và nông sản gây ảnh  hưởng đến môi trường và ngày càng xuất hiện nhiều loài sâu hại kháng thuốc. Vì vậy mà việc nghiên cứu và tìm kiếm các loại thuốc sinh học có hiệu quả phòng trừ sâu hại, thân thiện với môi  trường, an toàn cho con người và các loại sinh vật khác ngày càng được chú trọng và quan tâm nhiều hơn.

Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm và mật độ đến năng suất sinh khối của giống ngô sinh khối lai đơn MN-2 vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên
Thứ năm, 25/11/2021 | 08:36:33

Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm và mật độ đến năng suất sinh khối của giống ngô sinh khối lai đơn MN-2 vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên được thực hiện tại Đồng Nai và Đắk Lắk năm 2019 và 2020. Các thí nghiệm được bố trí  hai yếu tố kiểu lô phụ (Split – Plot Design) với lô chính là các mức đạm và lô phụ là các mật độ, 3 lần lặp lại. Kết quả nghiên cứu xác định được phân bón và mật độ thích hợp cho giống ngô sinh khối MN-2 như sau: vụ Hè Thu và Thu Đông (mùa mưa) sử dụng 2500 kg phân vi sinh, 160N-90P2O5-90 K2O (kg/ha) và mật độ 71.428 cây/ha (70 cm x 20 cm); vụ Đông Xuân (mùa khô) sử dụng 2500 kg phân hữu cơ, 200N-90P2O5-90 K2O (kg/ha)  và mật độ 79.365 cây/ha (70 cm x 18 cm).

Kết quả chọn tạo và khảo nghiệm giống sắn HL-S12
Thứ ba, 23/11/2021 | 08:14:17

Qua 5 năm tuyển chọn và khảo nghiệm bộ giống sắn đã chọn được giống HL-S12 có nhiều ưu điểm vượt trội so với đối chứng có thể lưu hành, phát triển và mở rộng cho sản xuất. Giống sắn HL-S12 được chọn từ tổ hợp lai HL-S10 × KM140, đánh giá tại Trung tâm Hưng Lộc từ năm 2014 đến năm 2021. Giống có một số đặc tính nông học sau: Số củ/bụi 10,3 củ, khối lượng củ/bụi 5,3 kg, chỉ số thu hoạch là 62,9. Kết quả khảo nghiệm diện hẹp cho thấy giống sắn HL-S12 có khả năng chống chịu khá với bệnh chổi rồng, nhện đỏ, khảm lá; năng suất biến động từ 36,02 - 42,34 tấn/ha;

Nghiên cứu tuổi thọ của hạt đậu tương hoang dại, đậu tương trồng và các dòng lai tái tổ hợp (RILS)
Thứ hai, 29/11/2021 | 08:44:16

Mất sức sống của hạt là một trở ngại nghiêm trọng trong sản xuất và bảo quản hạt giống đậu tương. Hiểu được các yếu tố ảnh hưởng đến sức sống của hạt và xác định các kiểu gen đậu tương có sức sống cao hơn là rất quan trọng trong sản xuất đậu tương. Trong nghiên cứu này, hạt giống của 125 kiểu gen đậu tương của ba loài khác nhau (Glycine tomentella, Glycine soja và Glycine max) và 25 dòng lai tái tổ hợp (RIL) (Glycine soja x Glycine soja) đã được thử nghiệm sức nảy mầm ngay sau khi thu hoạch, sau đó là một, hai và ba năm bảo quản.

Phân tích dữ liệu của protein giàu methionine thông qua sàng lọc hệ protein của sắn
Thứ ba, 02/11/2021 | 08:18:36

Trong nghiên cứu này, thông tin về nhóm protein giàu Methionine (Methionine-rich protein, MRP) đã được tìm hiểu một cách đầy đủ trên cây sắn (Manihot esculenta) bằng các công cụ tin sinh học. Kết quả đã xác định được tổng số 155 MRP, với tiêu chí kích thước ≥ 95 axít amin và hàm lượng Met ≥ 6%. Trong đó, 52 (trên tổng số 155) MRP chưa được chú giải chức năng ở sắn. Phân tích cho thấy các MRP chưa rõ chức năng có đặc tính lý hóa đa dạng.

Đánh giá khả năng kết hợp của một số dòng ngô thuần về năng suất sinh khối
Thứ sáu, 29/10/2021 | 08:38:26

Khả năng kết hợp chung (GCA) về năng suất sinh khối của 12 dòng ngô thuần từ các nguồn vật liệu khác nhau được thực hiện qua phương pháp lai đỉnh (Topcross). Ba cây thử được sử dụng trong thí nghiệm là các dòng thuần LN333,  D67 và D133. Thí nghiệm 36 tổ hợp lai đỉnh và tổ hợp lai triển vọng được bố trí kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) 3 lần lặp lại trong vụ Hè Thu và Thu Đông 2018 tại Hưng Lộc (Đồng Nai).

Nghiên cứu đa dạng di truyền của các dòng/giống đậu nành bằng chỉ thị ISSR
Thứ năm, 28/10/2021 | 09:16:50

Nghiên cứu về đa dạng di truyền là một trong những bước đầu trong việc cải thiện giống cây trồng. Trong nghiên cứu này, chỉ thị phân tử ISSR được sử dụng để đánh giá đa dạng di truyền của 120 dòng/giống đậu nành đang được lưu giữ trong ngân hàng giống của Trường Đại học Cần Thơ. Kết quả khuếch đại từ 10 chỉ thị phân tử ISSR cho được tổng cộng 89 phân đoạn, trong đó có 79 phân đoạn đa hình, chỉ số PIC của các mồi ISSR dao động từ 0,06 đến 0,25 và hệ số tương đồng từ 0,55 - 0,91. Sự đa dạng di truyền tương đối cao và 120 dòng/giống đậu nành chia được thành 7 nhóm chính và một số phân nhóm.

Đơn vị thành viên
Liên kết đối tác

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam
Địa chỉ: 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Tân Định, TP.HCM
Điện thoại: 028. 38234076 –  38228371
Website : http://iasvn.org - Email: iasvn@vnn.vn