Cây Đậu đỗ
Ảnh hưởng của xử lý hạt giống bằng nano kim loại sắt, đồng, coban đến sinh trưởng phát triển của đậu tương
Thứ tư, 09/12/2020 | 08:52:32

Kết quả đánh giá ảnh hưởng của xử lý hạt giống bởi nano kim loại sắt (Fe), đồng (Cu) và cobalt (Co) đến sinh trưởng phát triển đậu tương cho thấy: (1) Liều lượng nano kim loại đồng là 100 mg/60 kg hạt và 500 mg/60 kg hạt, coban là 10 mg/60 kg hạt và 50 mg/60 kg hạt và sắt ở nồng độ 10.000 mg/60 kg hạt có ảnh hưởng tốt tới sinh trưởng và phát triển của cây; (2) Các liều lượng nano kim loại xử lý hạt trên đã rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây từ 1 đến 3 ngày.

Phân tích vai trò của gốc methionine trong cấu trúc họ nhân tố phiên mã ở đậu tương
Thứ tư, 23/09/2020 | 08:45:27

Methionine (Met) là một axít amin đóng vai trò thiết yếu ở thực vật. Các gốc Met cấu trúc được giả thuyết là bảo vệ protein chống lại bất lợi ôxi hóa nội bào. Trong nghiên cứu này, 21 phân tử protein giàu Met, thuộc ba nhóm nhân tố phiên mã (TF) lần lượt là ‘Basic helix-loop-helix’ (bHLH), ‘Basic leucine zipper’ (bZIP) và ‘Serum response factor’ (SRF) ở đậu tương (Glycine max) đã được phân tích nhằm chứng tỏ giả thuyết trên.

Ảnh hưởng của thời gian gây úng đến sinh trưởng, sinh lý và năng suất của đậu xanh trong điều kiện nhà lưới
Thứ ba, 22/09/2020 | 08:21:48

Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của thời gian ngập úng ở giai đoạn cây ra hoa đến sinh trưởng, sinh lý và năng suất của 4 giống đậu xanh (ĐXVN5, ĐXVN7, ĐX11, ĐX14) trong điều kiện nhà lưới. Kết quả thí nghiệm cho thấy ngập úng làm suy giảm chiều cao cây, số lá, diện tích lá, nốt sần, khối lượng tươi và khô của rễ và thân lá, chỉ số SPAD, hiệu suất huỳnh quang diệp lục, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất. Thời gian gây úng 5 ngày ảnh hưởng ít nhất đến các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý và năng suất của các giống.

Đánh giá tác động của nano kim loại (sắt, đồng, coban) đến giống đậu tương HLĐN 29 ở Đồng Nai
Thứ tư, 16/09/2020 | 06:17:45

Bốn thí nghiệm để đánh giá tác động của nano kim loại (sắt, đồng, coban) đến giống đậu tương HLĐN 29 đã được thực hiện từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 02 năm 2018 tại Đồng Nai. Kết quả là xử lý hạt đậu tương với Co-2 kết hợp phun phân bón lá nano vi lượng DT A213 hoặc DT A312 hoặc DT A313, giống đậu tương HLĐN 29 sinh trưởng, phát triển tốt và đạt năng suất cao nhất, lần lượt là 2,50 tấn/ha, 2,46 tấn/ha và 2,41 tấn/ha, vượt đối chứng xử lý nước lần lượt là 24%, 22% và 20%.

Nghiên cứu vai trò của các yếu tố phiên mã đáp ứng auxin (GmARF) ở đậu tương và strigolactone ở arabidopsis trong chịu hạn và mặn
Thứ tư, 20/07/2016 | 09:43:38

Sự gia tăng dân số một cách nhanh chóng làm cho vấn đề an ninh lương thực trở thành vấn đề chính của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Thêm vào đó, sản lượng và sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp bền vững cũng đang bị đe dọa bởi ảnh hưởng của hiện tượng biến đối khí hậu và các điều kiện bất lợi (như hạn, ngập úng, dịch bệnh, sói mòn đất và ô nhiễm môi trường).

Nghiên cứu đa dạng di truyền vi khuẩn Ralstonia solanacearum Smith gây bệnh héo xanh hại lạc và xác định các dòng, giống kháng bệnh ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam
Thứ hai, 25/04/2016 | 05:31:13

Để rút ngắn thời gian trong việc chọn tạo giống lạc kháng bệnh héo xanh vi khuẩn, ứng dụng chỉ thị phân tử là con đường ngắn và hiệu quả, không những góp phần hạn chế tác hại của bệnh mà còn hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phòng chống bệnh, bảo vệ môi trường và tạo sự đa dạng sinh học đối với cây lạc (Liao et al., 2005b; Peng et al., 2011; Ding et al., 2012). Đến nay ở nước ta chưa có nghiên cứu nào về sử dụng chỉ thị phân tử để chọn giống lạc kháng bệnh héo xanh vi khuẩn được công bố.

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật quản lý sâu cuốn lá hại Lạc vụ xuân 2013, tại xã Hải Lĩnh, huyện Tỉnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
Thứ hai, 07/03/2016 | 08:37:50

Sâu cuốn lá lạc là đối tượng gây hại nghiêm trọng trên cây lạc, để quản lý sâu cuốn lá hại lạc đạt hiệu quả cao phải sử dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp với phương châm là giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa sâu hại, thiên địch, cây trồng và điều kiện ngoại cảnh ở từng giai đoạn sinh trưởng của cây lạc. Trong đó cần duy trì và khích lệ khả năng hoạt động của các loài thiên địch,

Cây đậu đỗ ở các tỉnh phía Nam - Thực trạng và định hướng phát triển
Chủ nhật, 15/11/2015 | 05:37:05

Lạc, đậu tương, đậu xanh là 3 cây trồng chính trong nhóm cây đậu đỗ được khai thác để đáp ứng nhu cầu sử dụng dầu thực vật, protein cho người và nguyên liệu thức ăn gia súc, đây cũng là loại cây trồng có tác dụng tốt trong việc luân xen canh, cải tạo đất và ứng dụng để chuyển đổi cơ cấu cây trồng rất hiệu quả. Sản phẩm của đậu đỗ được sử dụng rất phổ biến trong dân gian và ngày càng được tiêu thụ nhiều hơn khi phát hiện được nhiều vi chất ảnh hưởng tốt đến sức khỏe con người và động vật.

Nghiên cứu chọn tạo giống lạc, đậu tương cho các tỉnh phía Bắc
Thứ năm, 24/09/2015 | 08:19:19

Trong những năm qua sản xuất lạc và đậu tương ở nước ta đã có bước tiến bộ nhảy vọt nhờ vào các thành tựu nghiên cứu khoa học các giai đoạn trước và giai đoạn 2006 - 2010, chính sách phát triển nông nghiệp của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương.

Sản xuất và đánh giá chế phẩm vi sinh đối kháng phòng bệnh héo xanh lạc, vừng
Thứ tư, 17/02/2016 | 09:05:02

Bệnh héo xanh lạc, vừng do vi khuẩn Ralstonia solanacearum  đã gây ra nhiều thiệt hại cho người nông dân, theo thống kê khoảng 25 - 45% sản lượng. Nhiều loại thuốc hoá học bảo vệ thực vật  đã và  đang  được sử dụng, hiệu quả của nó  đối với một số bệnh là rất cao, nhưng chúng lại không có tác dụng  đối với bệnh héo xanh.

Hiệu quả chủng vi khuẩn cố định đạm (Sinorhizobium fredii) và hòa tan lân (Pseudomonas stutzeri) dạng lỏng đối với đậu nành trồng trên nền đất lúa ở ĐBSCL
Thứ năm, 01/05/2014 | 18:28:37

Theo kết quả nghiên cứu cho biết, hàng năm, cây họ đậu cố định được khoảng 80 triệu tấn đạm từ nguồn nitơ trong không khí, trong khi đó các nhà máy phân bón chỉ sản xuất được khoảng 50-60 triệu tấn với giá thành cao (FAO, 1984) và riêng trên cây đậu nành thì lượng đạm cố định trung bình là 94 kg/ha/vụ. Trong đất lân vô cơ khó tan có thể được vi sinh vật chuyển hóa thành dạng dễ tan.

Chọn tạo giống đậu tương biến đổi gen kháng sâu ở Việt Nam
Thứ năm, 01/05/2014 | 18:30:18

Với sự phát triển của công nghệ sinh học, diện tích cây trồng biến đổi gen ngày càng tăng, lên đến 134 triệu ha trong năm 2009, trong đó đậu tương biến đổi gen chiếm 76 triệu ha. Ở Việt Nam đậu tương là cây thực phẩm quan trọng, diện tích gia tăng từ 120.000 ha năm 1995 lên 200.000 ha năm 2009, với năng suất tương ứng tăng từ 1,0 lên 1,4 tấn/ha.

Phân tích biến dị di truyền ở dạng và số trái đậu nành bằng phương pháp đường viên
Thứ năm, 01/05/2014 | 18:30:34

Số trái và dạng trái đậu nành là hai yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất sau cùng của hạt.  Phương pháp phân tích “Fourier Elliptic” được sử dụng trong nghiên cứu này. Tám mươi giống đậu nành có nguồn gốc khác nhau được gieo từ  tháng 1 đến tháng 4/2010 tại tại lô đất thuộc Khu vực V, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

Bệnh rỉ sắt đậu nành
Thứ năm, 01/05/2014 | 18:53:01

Bệnh rỉ sắt do nấm Phakopsora pachyrhizi gây ra là một trong những bệnh chính trên cây đậu nành (Glycine max) ở Châu Á và gây thiệt hại đáng kể về năng suất ở khắp các nước sản xuất đậu nành. Hầu hết các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới đều ghi nhận có sự xuất hiện của bệnh rỉ sắt đậu nành địa phương (Sinclair, 1989). Ở Đài Loan, bệnh rỉ sắt có thể gây thiệt hại nghiêm trọng trên cây đậu nành không được bảo vệ bằng thuốc trị nấm và ở một số vùng, bệnh rỉ sắt là một yếu tố làm giới hạn việc sản xuất đậu nành vụ xuân.

Đơn vị thành viên
Liên kết đối tác

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam
Địa chỉ: 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Tân Định, TP.HCM
Điện thoại: 028. 38234076 –  38228371
Website : http://iasvn.org - Email: iasvn@vnn.vn