Nhập khẩu TĂCN & NL tháng 2/2020 theo thị trường
(Vinanet tính toán từ số liệu công bố ngày 11/3/2020 của TCHQ)
ĐVT: nghìn USD
|
Thị trường |
T2/2020 |
So với T1/2020 (%) |
2T/2020 |
So với 2T/2019 (%) |
|
Tổng KN |
271.938 |
22,4 |
494.186 |
-20,7 |
|
Argentina |
135.930 |
84,7 |
209.535 |
3,4 |
|
Ấn Độ |
9.489 |
99,9 |
14.223 |
-64,1 |
|
Anh |
94 |
|
96 |
-29,4 |
|
Áo |
28 |
-84,9 |
214 |
-72 |
|
Bỉ |
961 |
107,9 |
1.424 |
-42,0 |
|
Brazil |
3.749 |
-88,2 |
35.448 |
-28,1 |
|
UAE |
4.102 |
3,7 |
8.059 |
92 |
|
Canada |
1.100 |
1,9 |
2.181 |
-49,9 |
|
Chile |
2.501 |
489,2 |
2.926 |
34,6 |
|
Đài Loan (TQ) |
6.797 |
85,8 |
10.456 |
22,6 |
|
Đức |
926 |
53,2 |
1.532 |
-9,3 |
|
Hà Lan |
1.073 |
40,8 |
1.856 |
-53,5 |
|
Hàn Quốc |
3.315 |
26,6 |
5.934 |
-6,1 |
|
Mỹ |
29.362 |
11,5 |
55.760 |
-56,8 |
|
Indonesia |
4.199 |
7,35 |
8.064 |
-45,1 |
|
Italia |
2.263 |
-19,7 |
5.083 |
-50,6 |
|
Malaysia |
940 |
-56,1 |
3.080 |
-23,2 |
|
Mexico |
762 |
612 |
869 |
47,4 |
|
Nhật Bản |
31 |
-90,9 |
382 |
-22,9 |
|
Australia |
2.006 |
231,8 |
2.611 |
-57,3 |
|
Pháp |
1.704 |
8,7 |
3.273 |
-44,2 |
|
Philippin |
1.857 |
-23,1 |
4.273 |
123,8 |
|
Singapore |
2.151 |
36,2 |
3.730 |
16,7 |
|
Tây Ban Nha |
330 |
-59,1 |
1.137 |
-62,3 |
|
Thái Lan |
10.754 |
90,7 |
16.393 |
-5,1 |
|
Trung Quốc |
11.188 |
9,6 |
21.516 |
-30,7 |
Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật 2 tháng năm 2020.
Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 2 tháng đầu năm 2020
|
Mặt hàng |
2T/2020 |
So với 2T/2019 |
||
|
Lượng (nghìn tấn) |
Trị giá (nghìn USD) |
Lượng (%) |
Trị giá (%) |
|
|
Lúa mì |
708 |
177.818 |
113,5 |
89,4 |
|
Ngô |
1.106 |
229.812 |
-31,4 |
-32,5 |
|
Đậu tương |
219 |
90.770 |
-29,1 |
-25,4 |
|
Dầu mỡ động thực vật |
|
55.795 |
|
-42,4 |
Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ
Lúa mì: Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 2/2020 đạt 331 nghìn tấn với kim ngạch đạt 82 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 2 tháng đầu năm 2020 lên hơn 708 nghìn tấn, với trị giá hơn 177 triệu USD, tăng 113,53% về khối lượng và tăng 89,41% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019.
Vũ Lanh - VINANET, Nguồn: VITIC












