Tự chủ giống vật nuôi: “Chìa khóa vàng” nâng tầm vị thế chăn nuôi

Ngày cập nhật: 26 tháng 9 2026
Chia sẻ

Ngành chăn nuôi đạt quy mô khoảng 33 tỷ USD/năm và tự chủ nhiều giống năng suất cao, song sản xuất con giống tại Việt Nam vẫn đối mặt với không ít thách thức về chất lượng và công nghệ.

Để khắc phục, nhiều giải pháp đồng bộ đang được triển khai nhằm hướng tới mục tiêu tự chủ 70-100% nguồn giống vật nuôi chủ lực vào năm 2030. Đây là bước đi chiến lược, “chìa khóa vàng” để nâng tầm vị thế chăn nuôi Việt.

Ngành chăn nuôi tiếp tục giữ vai trò trụ cột với quy mô khoảng 33 tỷ USD/năm, đóng góp 27-28% GDP toàn ngành.

Thành tựu đột phá

Những năm qua, ngành chăn nuôi đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận khi quy mô ước đạt khoảng 33 tỷ USD/năm, chiếm 26% giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp, tạo sinh kế cho hàng triệu hộ nông dân và góp phần quan trọng bảo đảm an ninh thực phẩm cho hơn 100 triệu dân. Trong sản xuất con giống, một số sản phẩm vật nuôi đạt năng suất khoảng 90-95% mức thế giới; 47 giống vật nuôi mới đã được công nhận, nâng tổng số giống năng suất cao lên 59 giống. 

Phát biểu tại Hội nghị Khoa học, Công nghệ Chăn nuôi và Thú y toàn quốc lần thứ nhất diễn ra cuối tháng 3/2026, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, chăn nuôi là một trong những trụ cột của nông nghiệp Việt Nam. Trong thập kỷ qua, ngành chăn nuôi duy trì tốc độ tăng trưởng 4,5-6%/năm, đưa nước ta vào nhóm quốc gia có quy mô lớn trên thế giới, với đàn lợn đứng thứ 5 và gia cầm đứng thứ 9. Năm 2025, tổng sản lượng đạt 8,68 triệu tấn thịt, 21,4 tỷ quả trứng và 1,3 triệu tấn sữa tươi.

Theo ông Tiến, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là những động lực then chốt. Thực tế cho thấy, các tiến bộ trong chọn tạo giống, dinh dưỡng, chăn nuôi thông minh, sản xuất vắc xin và kiểm soát dịch bệnh đã góp phần đáng kể trong việc nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm và giảm thiểu thiệt hại do dịch bệnh.

Cả nước hiện có 1.001 xã có điểm cung cấp giống vật nuôi, chiếm 38,02% tổng số xã theo đơn vị hành chính mới. Mạng lưới cung ứng giống ngày càng gắn với các doanh nghiệp, cơ sở chăn nuôi giống quy mô lớn và hệ thống trang trại, đồng thời một phần nhu cầu giống được đáp ứng thông qua các kênh liên kết trực tiếp với doanh nghiệp.

Đánh giá về con giống, ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), khẳng định, giai đoạn 2021-2025 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi, từ thiếu hụt sang chủ động nguồn cung, từng bước tham gia thị trường xuất khẩu. Thành tựu này gắn liền với vai trò then chốt của khoa học công nghệ, đặc biệt trong nghiên cứu giống, dinh dưỡng, thú y và công nghệ môi trường.

Ông Long thông tin,  thông qua các đề tài nghiên cứu và dự án sản xuất thử nghiệm, ngành chăn nuôi đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Các nhà khoa học đã chọn tạo và đưa vào sản xuất nhiều dòng, giống vật nuôi mới có giá trị kinh tế cao. Bộ đã công nhận 31 tiến bộ kỹ thuật, trong đó có 6 dòng, giống lợn; 15 dòng, giống gia cầm.

Trong lĩnh vực chọn tạo giống, hầu hết các giống vật nuôi năng suất, chất lượng cao trên thế giới đã được nhập nội và phát triển tại Việt Nam. Các công nghệ tiên tiến cũng được ứng dụng mạnh mẽ, các chip gen chứa từ 60.000 đến 500.000 SNP đã được áp dụng trong chọn giống lợn, bò và gia cầm, giúp nâng cao độ chính xác trong chọn lọc các tính trạng như chất lượng thịt, khả năng sinh sản và sức kháng bệnh.

Các công nghệ sinh học hiện đại như: thụ tinh trong ống nghiệm, cấy truyền phôi, phân tích gen và chọn lọc di truyền đã được làm chủ, mở ra hướng phát triển các giống vật nuôi có năng suất cao, thích ứng tốt với dịch bệnh và biến đổi khí hậu. Việt Nam đã nhân bản thành công đàn lợn ỉ lần đầu tiên; làm chủ kỹ thuật cấy phôi, thụ tinh trong ống nghiệm và xác định giới tính phôi trong chọn tạo giống.

Theo ông Nguyễn Văn Trọng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam, Việt Nam, Ủy viên BCH Hội Làm vườn Việt Nam, nước ta không thiếu giống tốt. Trong nhiều thập kỷ, ngành chăn nuôi đã đạt những bước tiến đáng kể về di truyền. Nhiều giống vật nuôi tăng năng suất 20 - 30%, giảm tiêu tốn thức ăn khoảng 25%. Một số giống gia cầm đạt năng suất thuộc nhóm cao của thế giới. Đặc biệt, các giống cao sản toàn cầu hầu như đều đã có mặt tại Việt Nam. Doanh nghiệp trong nước cũng tiếp cận nhanh tiến bộ khoa học, đồng thời chọn tạo được một số giống mới, bảo tồn được nguồn gen bản địa.

Theo báo cáo sơ kết 5 năm (2021-2025) thực hiện Chương trình “Phát triển nghiên cứu, sản xuất giống phục vụ cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2021-2030” của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hiện tỷ lệ thụ tinh nhân tạo ở lợn đạt 90%, giống tiến bộ kỹ thuật ở gia cầm và vịt đạt 85%, tỷ lệ lợn lai, lợn ngoại đạt 95%. Tỷ lệ sử dụng giống tiến bộ kỹ thuật đạt hoặc vượt mục tiêu năm 2030, gồm: lợn lai, lợn ngoại đạt 95%, dê lai Boer chiếm 65% tổng đàn, thụ tinh nhân tạo ở lợn đạt 90%, gia cầm tiến bộ kỹ thuật đạt 85%.

Nhờ giống liên tục được cải tạo, Việt Nam có đàn bò sữa chất lượng, thay thế dần nguồn nhập khẩu. Ảnh TH.

Tập đoàn TH làm chủ công nghệ phôi, nâng tầm giống bò sữa

Trong nỗ lực tự chủ nguồn giống và nâng cao năng suất sữa, Tập đoàn TH đã làm chủ chuỗi công nghệ phôi tiên tiến OPU-IVP-ET (Hút trứng - Thụ tinh trong ống nghiệm - Cấy truyền phôi) quy mô công nghiệp để cải tiến di truyền, nhân giống bò sữa cao sản. Nhờ đó, TH tự sản xuất phôi, tạo ra hàng nghìn bê con có di truyền tốt, nâng cao năng suất sữa, hướng tới chủ động nguồn giống, giảm phụ thuộc nhập khẩu.

Theo ông Trần Trung Mỹ, Giám đốc quản lý chất lượng (QA) Khối Trang trại Tập đoàn TH, trong chăn nuôi bò sữa, chất lượng giống quyết định trực tiếp đến năng suất và hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên, trong thời gian dài, ngành bò sữa phụ thuộc chủ yếu vào nguồn giống nhập khẩu; trong đó, phần lớn là bò lai F1, F2 chưa thuần chủng, khiến năng suất và chất lượng còn hạn chế.

Trong bối cảnh đó, cải tiến di truyền được xác định là yếu tố then chốt. Công nghệ phôi, bao gồm chọc hút trứng, sản xuất phôi trong ống nghiệm và cấy truyền, được xem là một bước tiến quan trọng trong công tác giống, cho phép rút ngắn tiến bộ di truyền so với các phương pháp truyền thống.

Hiện ngành chăn nuôi bò sữa đang đứng trước một nghịch lý: quy mô đàn có xu hướng giảm, trong khi yêu cầu về sản lượng và chất lượng sữa ngày càng cao. Điều này đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng suất trên từng cá thể vật nuôi thay vì mở rộng số lượng.

Trong khi phương pháp thụ tinh nhân tạo truyền thống giúp cải thiện di truyền nhưng tiến độ còn chậm, thì chuỗi công nghệ phôi đang trở thành giải pháp đột phá, cho phép rút ngắn đáng kể chu kỳ chọn lọc và nhân giống. Trên thế giới, công nghệ phôi in vitro (IVP) đã vượt mốc 2 triệu phôi, chiếm hơn 80% tổng số phôi sản xuất, cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt sang công nghệ này.

Theo ông Mỹ, việc ứng dụng chuỗi công nghệ phôi không chỉ giúp tăng nhanh tiến bộ di truyền mà còn là chìa khóa để ngành bò sữa chuyển sang mô hình phát triển theo chiều sâu, nâng cao năng suất trên từng cá thể, thay vì phụ thuộc vào mở rộng đàn.

Việc làm chủ công nghệ phôi ở quy mô công nghiệp, với các chỉ tiêu tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế, cũng cho thấy tiềm năng lớn của ngành chăn nuôi Việt Nam trong việc tiếp cận và ứng dụng các công nghệ sinh học tiên tiến.

Không ít khó khăn, thách thức

Tuy đạt được nhiều thành tựu, nhưng trong sản xuất con giống vật nuôi vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức: Chất lượng giống một số vật nuôi chưa đáp ứng yêu cầu thị trường; việc ứng dụng công nghệ cao trong chọn giống còn hạn chế; thiếu các nghiên cứu tích hợp đồng bộ giữa giống, dinh dưỡng, kỹ thuật nuôi và thú y; việc chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc còn chậm...

Quyết định số 1741/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển công nghiệp sản xuất giống vật nuôi đề ra mục tiêu: Đến năm 2030, nước ta có thể chủ động sản xuất được nguồn giống vật nuôi chủ lực cấp bố mẹ và con thương phẩm có năng suất, giảm nhập khẩu các giống vật nuôi chủ lực: đáp ứng tối thiểu 90% nhu cầu giống lợn, 80% nhu cầu giống gà, 100% nhu cầu giống vịt, 70% nhu cầu giống bò thịt. Nhập khẩu các giống vật nuôi cấp cụ kỵ, ông bà, giống thuần có năng suất cao để làm tươi máu và cải tạo năng suất các giống vật nuôi hiện có.

PGS.TS. Đỗ Đức Lực, Trưởng Bộ môn Di truyền, Giống vật nuôi, Khoa Chăn nuôi (Học viện Nông nghiệp Việt Nam), chia sẻ, các doanh nghiệp chăn nuôi đều nhận thức rằng, công tác di truyền giống đóng vai trò quan trọng trong chuỗi sản xuất. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn chưa chú trọng đúng mức đến việc duy trì và cải thiện chất lượng đàn giống hiện có. Thay vào đó, nhiều doanh nghiệp đã và vẫn ưu tiên nhập khẩu con giống từ nước ngoài. Việc nhập khẩu con giống có thể cải thiện năng suất về mặt ngắn hạn nhưng về dài hạn kéo theo hệ lụy phụ thuộc vào con giống nhập khẩu. Giống nhập ngoại có năng suất cao nhưng việc thích nghi với điều kiện khí hậu như ở Việt Nam là một thách thức.

Theo ông Lực, việc ứng dụng công cụ di truyền trong chọn giống vẫn còn hạn chế do thiếu nhân lực và kinh nghiệm, chi phí chọn lọc còn cao, cơ sở dữ liệu chưa đầy đủ, công nghệ mới chưa được áp dụng rộng rãi và nhiều doanh nghiệp chưa thật sự sẵn sàng.

Trong khi đó, nhiều chuyên gia cho rằng, rào cản lớn nhất hiện nay không phải là số lượng nguồn gen, mà là khả năng làm chủ công nghệ để giải mã, đánh giá và khai thác hiệu quả các nguồn gen quý. Việc áp dụng công nghệ sinh học, công nghệ gen trong sản xuất là giải pháp giúp ngành chăn nuôi thoát khỏi thế bấp bênh, đồng thời xây dựng được thương hiệu sản phẩm Việt trên thị trường quốc tế.

Theo ông Nguyễn Văn Trọng, vấn đề hiện nay không nằm ở việc thiếu giống tốt mà nằm ở cách tổ chức sản xuất giống. Việc nhà nhà sản xuất giống, người người sản xuất giống dẫn đến thiếu liên kết, thiếu kiểm soát chất lượng và không phát huy được ưu thế lai. Điểm nghẽn này mâu thuẫn với quy trình sản xuất giống hiện đại vốn thường được tổ chức theo mô hình tháp.

Tầng trên là đàn giống hạt nhân được kiểm soát chặt chẽ về di truyền. Tầng giữa là giống ông bà, bố mẹ. Tầng dưới cùng là con thương phẩm. Chỉ khi vận hành theo cấu trúc này, ưu thế di truyền mới duy trì ổn định và lan tỏa ra sản xuất đại trà. Nếu không, giống tốt vẫn có thể bị “bào mòn” qua từng thế hệ. Đây là khác biệt căn bản giữa chăn nuôi công nghiệp và chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá, công tác nghiên cứu, chọn tạo giống chủ yếu tập trung vào những vật nuôi ngắn ngày, sinh trưởng nhanh. Tỷ lệ sử dụng giống tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất còn thấp như: nhân giống trâu chủ yếu lai tự do; 15% gia cầm chưa đạt chuẩn, 33% bò là giống địa phương năng suất thấp, vẫn phải nhập giống bò đực để sản xuất tinh.

Công tác kiểm soát chất lượng giống gặp nhiều khó khăn. Mặc dù hệ thống văn bản pháp luật về giống đã được ban hành đầy đủ nhưng hiệu quả thực thi còn hạn chế do sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún. Tình trạng sản xuất, kinh doanh giống giả, giống kém chất lượng vẫn xảy ra; một bộ phận nông dân tự chọn lọc giống, tiềm ẩn nguy cơ thoái hóa, làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm.

Ưu tiên ứng dụng công nghệ chiến lược

Thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, lĩnh vực chăn nuôi đang dần định hình rõ các hướng nghiên cứu trọng tâm cho giai đoạn tới. Mục tiêu xuyên suốt là nâng cao năng lực tự chủ và tăng cường sức cạnh tranh của ngành.

Theo đó, ưu tiên hàng đầu là phát triển các công nghệ chiến lược như chọn lọc hệ gen, chỉnh sửa và tiến tới biến đổi gen và chọn giống chính xác (Genomic Selection), ứng dụng công nghệ sinh học nhằm tạo ra các giống vật nuôi có năng suất cao, chất lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu và khả năng kháng bệnh tốt. Đồng thời, ngành sẽ đẩy mạnh chuyển đổi số thông qua việc xây dựng hệ thống dữ liệu lớn, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán dịch bệnh và tối ưu hóa quy trình sản xuất.

Ông Phạm Kim Đăng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết, ngành đang phối hợp với các đơn vị, địa phương nghiên cứu, chọn tạo giống, hướng tới phát triển bò Mông và nhung hươu thành những sản phẩm mang thương hiệu quốc gia, giống như sâm nhung Hàn Quốc, bò Kobe Nhật Bản.

Các chuyên gia quốc tế nhận định, về mặt di truyền, tầm vóc, thể trạng, bò Mông  có xuất phát điểm hơn cả bò Hanwoo của Hàn Quốc (ngang với bò Kobe của Nhật).

Với tiềm năng này, thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học theo Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị, Cục đã đưa vào kế hoạch, đặt hàng các đơn vị nghiên cứu, chọn tạo giống bò Mông theo hướng chất lượng cao như giống bò Hanwoo của Hàn Quốc hoặc Kobe của Nhật.

Ông Vang cho biết thêm, sản phẩm nhung hươu cũng rất có tiềm năng. Hiện nay, qua ra soát, Cục nhận thấy Việt Nam nhập rất nhiều nhung hươu về để làm thuốc bổ, trong khi chúng ta có nhung hươu Hương Sơn (Hà Tĩnh) nổi tiếng, tại sao chúng ta không phát triển thành một thương hiệu.

Theo ông Phùng Đức Tiến, công nghệ gen sẽ là đòn bẩy chiến lược để tạo ra dòng sản phẩm nông nghiệp có hàm lượng tri thức cao, khác biệt, bền vững và mang thương hiệu Việt Nam ra thị trường quốc tế. Nếu không làm chủ công nghệ gen, chúng ta sẽ mãi đi sau và phụ thuộc. Nhưng nếu tận dụng tốt cơ hội từ Nghị quyết 57, Việt Nam hoàn toàn có thể vươn lên thành quốc gia sáng tạo gen chứ không chỉ dừng lại ở vai trò bảo tồn.

Để hiện thực hóa các mục tiêu, phải xây dựng một hệ sinh thái đổi mới, sáng tạo đồng bộ, trong đó tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, đặc biệt là xây dựng khung pháp lý phù hợp cho các sản phẩm công nghệ mới như vật nuôi chỉnh sửa gen.

Ở nước ta, giống tốt đã có, công nghệ đã có, thị trường cũng đang mở rộng. Vấn đề còn lại là tổ chức hệ thống giống theo mô hình hiện đại, tổ chức liên kết giữa các cơ sở sản xuất giống, tổ chức phân khúc thị trường rõ ràng và tổ chức lại mối quan hệ giữa chăn nuôi trang trại và nông hộ. Nếu làm được điều đó, tiến bộ giống sẽ không chỉ dừng ở phòng thí nghiệm hay một vài doanh nghiệp lớn mà lan tỏa ra toàn ngành. Khi đó, giống không chỉ là yếu tố kỹ thuật mà trở thành năng lực cạnh tranh thực sự của ngành chăn nuôi Việt Nam.

Tự chủ giống vật nuôi không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn hướng tới xuất khẩu. Nhưng để làm được, ngoài giống còn cần 2 điều kiện then chốt là giá thành và an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc. Điều này quay trở lại điểm xuất phát là giống phải được đặt trong một hệ thống sản xuất hiệu quả, có kiểm soát và minh bạch.

Theo TS. Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, cần kết hợp hài hòa giữa nguồn gen ngoại và nguồn gen bản địa. Nguồn gen ngoại mang năng suất cao nhưng đòi hỏi điều kiện chăn nuôi khắt khe. Nguồn gen bản địa có lợi thế về khả năng thích nghi và chất lượng sản phẩm. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và dịch bệnh ngày càng phức tạp, khả năng thích nghi trở thành yếu tố có giá trị dài hạn.

Giải pháp chiến lược

Đề án Phát triển công nghiệp sản xuất giống vật nuôi đến năm 2030 đề ra 6 nội dung và giải pháp cụ thể.

Thứ nhất, ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ sinh học, tiếp thu nhanh các tiến bộ mới để sản xuất và quản lý giống vật nuôi. 

Hỗ trợ các cơ sở giống áp dụng công nghệ thông tin, công nghệ tự động hóa bằng một phần mềm chuyên dụng cho quản lý dữ liệu giống quốc gia để quản lý thông tin, có khả năng kết nối liên thông giữa các cơ sở giống phục vụ công tác chọn lọc, nhân giống, sản xuất giống cho từng đối tượng vật nuôi chính và công tác quản lý nhà nước về giống vật nuôi, bảo đảm công khai, minh bạch.  Tất cả các cơ sở sản xuất giống vật nuôi bắt buộc phải áp dụng phần mềm quản lý dữ liệu giống quốc gia, thường xuyên cập nhật thông tin dữ liệu, quản lý giống theo từng cấp giống rõ ràng, gắn mã định danh để phục vụ cho việc truy xuất nguồn gốc trong quản lý giống vật nuôi.

Áp dụng công nghệ gen vào chọn tạo giống vật nuôi, đẩy nhanh tiến bộ di truyền để công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong công tác tạo dòng, tạo giống, nhân giống và phát triển giống vật nuôi.

Đầu tư thực hiện công tác chọn tạo giống vật nuôi tại các cơ sở giống do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý, đặc biệt các giống vật nuôi bản địa.

Nhân bản thành công lợn ỉ từ tế bào soma mô tai. Ảnh: Văn Giang.

Thứ hai, kiểm tra năng suất, khảo nghiệm, kiểm định chất lượng giống vật nuôi.

Hoàn thiện các quy trình kiểm tra năng suất, đánh giá chất lượng con giống (đặc biệt đối với đực giống) bằng các công nghệ tiên tiến phù hợp từng đối tượng vật nuôi và áp dụng thống nhất chung cho các cơ sở giống trên toàn quốc.

Rà soát và hoàn thiện quy trình khảo nghiệm, kiểm định chất lượng đối với loài giống vật nuôi chủ đạo.

Thứ ba, phát triển công nghiệp sản xuất giống vật nuôi với quy mô lớn, đồng bộ.

Tăng cường năng lực một số cơ sở sản xuất giống vật nuôi quy mô công nghiệp theo hướng đối tác công tư.

Nghiên cứu, cải tạo, tiếp cận các giống vật nuôi có năng suất cao (cấp cụ kỵ, cấp ông bà, giống thuần) để làm tươi máu và nâng cao năng suất đàn giống vật nuôi làm cơ sở cho việc ứng dụng phương pháp chọn giống theo hệ gen.

Tổng điều tra, rà soát, tuyển chọn một số giống vật nuôi chủ đạo, có giá trị kinh tế cao; xây dựng phần mềm, ước tính giá trị giống, chọn lọc và quản lý tại cơ sở sản xuất giống, cơ sở chăn nuôi theo hình tháp 3 cấp đàn hạt nhân - đàn sản xuất - đàn thương phẩm.

Thứ tư, khai thác, phát triển nguồn gen giống vật nuôi bản địa theo hướng hàng hóa, xây dựng chỉ dẫn địa lý, thương hiệu theo lợi thế vùng miền gắn với du lịch.

Điều tra, xây dựng bản đồ ngân hàng giống vật nuôi bản địa quốc gia để khai thác và phát triển theo lợi thế, đặc trưng vùng miền; xây dựng chỉ dẫn địa lý, thương hiệu gắn với du lịch sinh thái và nhu cầu thị trường.

Tập trung phát hiện, phân tích, phục tráng, bảo tồn, khai thác và phát triển có hiệu quả các giống bản địa có nguồn gen quý, các đối tượng vật nuôi đặc thù, lợi thế, cung cấp vật liệu di truyền để nhân giống, lai tạo giống phù hợp với nhu cầu sản xuất theo phân khúc thị trường trong nước và xuất khẩu.

 Tập trung sản xuất một số giống gia súc, gia cầm gà bản địa phù hợp với nhu cầu phát triển thị trường.

Thứ năm, tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các cơ quan quản lý, cơ sở lưu giữ và nhân giống vật nuôi.

Đầu tư xây dựng một số trung tâm nuôi giữ giống vật nuôi quốc gia có cơ sở vật chất đồng bộ, ứng dụng công nghệ cao để thu thập, quản lý thông tin, dữ liệu cho từng đối tượng giống vật nuôi; ứng dụng công nghệ cao trong công tác chọn giống, sản xuất giống, quản lý nguồn gen và chất lượng giống vật nuôi.

Nâng cấp, tăng cường năng lực và hiện đại hóa cơ sở vật chất của một số đơn vị nuôi giữ giống gốc và phòng thí nghiệm trọng điểm phục vụ công tác chọn lọc giống, khảo nghiệm, kiểm định giống vật nuôi đảm bảo chất lượng hiệu quả.

Tăng cường xã hội hóa, ứng dụng mã số, mã vạch phục vụ công tác truy xuất nguồn gốc và quản lý chất lượng giống; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp giống vật nuôi theo hình thức đối tác công - tư.

Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho công tác quản lý giống vật nuôi, chuyển giao công nghệ và quản lý trang trại giống vật nuôi.

Thứ sáu, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng giống vật nuôi.

Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách đủ mạnh để ngành chăn nuôi phát triển bền vững và đảm bảo an toàn thực phẩm.

Tăng cường năng lực, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra giống vật nuôi từ trung ương đến địa phương, kiểm soát chặt chẽ về chất lượng giống nhập khẩu và giống vật nuôi lưu thông trong nước.

Nâng cao vai trò hội, hiệp hội trong công tác kiểm soát, đánh giá chất lượng giống, xác nhận nguồn gốc chất lượng giống vật nuôi.

Tự chủ nguồn giống chất lượng cao không chỉ là lời giải cho bài toán kinh tế trước mắt, mà chính là “đòn bẩy” chiến lược quyết định tương lai của ngành chăn nuôi Việt Nam. Khi làm chủ được “gốc rễ” của chuỗi sản xuất, chăn nuôi Việt Nam không chỉ bảo đảm vững chắc an ninh thực phẩm cho hơn 100 triệu dân, mà còn tự tin nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế. Chủ động được con giống chất lượng cao chính là “chìa khóa vàng” để nâng tầm vị thế chăn nuôi Việt, giúp hàng triệu hộ nông dân làm giàu bền vững trên chính mảnh đất quê hương.

Hoàng Văn - Kinhtenongthon.vn

Số lần xem: 27

Đơn vị thành viên
Liên kết đối tác

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam
Địa chỉ: 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Tân Định, TP.HCM
Điện thoại: 028. 38234076 –  38228371
Website : http://iasvn.org - Email: iasvn@vnn.vn