Tuần tin khoa học 1004 (10-16/8/2026)
Quá trình phân rã protein đóng vai trò then chốt trong cái giá phải trả về mặt thích nghi của thuốc trừ sâu (1)
![]()
Quá trình phân rã protein thành amino acid (ubiquitination) là một sự cải biên chủ yếu của sự kiện hậu giải mã trong sinh vật nhân thật (eukaryotes), chúng có vai trò rất cần thiết trong các tiến trình hết sức đa dạng của tế bào thông qua điều tiết chức năng của protein. Các tác giả chỉ ra rằng dòng thác phản ứng E1-1/E2-3/TRIM37 ubiquitination trong côn trùng bọ phấn trắng, Bemisia tabaci, điều tiết một yếu tố phiên mã TF có tên là CREB, dẫn đến hậu quả khác thuốc trừ sâu của bọ phấn trắng và cái giả phải trả về mặt thích nghi (fitness cost). Kết quả làm rõ sự điều tiết có tính chất hậu giải mã của phản ứng với chất ngoại lai (xenobiotic response) của các loài côn trùng và cung cấp những chiến lược mới chống lại một loài dịch hại cây trồng khét tiếng trên toén thế giới “bọ phấn trắng”.
Cho đến nay, vai trò ubiquitination trong tiến hóa của những tính trạng thích nghi trong lớp côn trùng vẫn chưa được biết rõ ràng. Tác giả nhấn mạnh vai trò của quá trình phân rã protein trong tính thích nghi kháng lại thuốc trừ sâu của côn trùng và đi kèm theo cái giá phải trả như thế nào, đối với con Bemisia tabaci. Người ta xác định được RING-type E3 ubiquitin ligase TRIM37 trong con bọ phấn trắng B. tabaci và cho thấy sự tăng cường hoạt động ubiquitination in vivo và in vitro. Người ta chứng minh rằng chính ligase kết gắn với các enzymes khác trong quá trình ubiquitin là thành viên của dòng thác phản ứng E1-1/E2-3/TRIM37 ubiquitination, điều tiết một cách tiêu cực yếu tố phiên mã CREB thông qua đánh dấu nó rồi phân giải protein. CREB, đổi lại, điều hòa theo hướng tích cực gen kháng thuốc trừ sâu - gen CYP6CM1, trong khi đó, điều hòa một cách tiêu cực gen chủ chốt trong quá trinh sinh noãn- gen Vasa. Sự điều tiết kiểu “down” của TRIM37 trong chủng nòi B. tabaci kháng gốc thuốc neonicotinoid làm tăng kết quả giải độc thuốc trừ sâu thông qua sự điều tiết kiểu “up” của gen CYP6CM1, nhưng đồng thời phải trả giá về mặt thích nghi sinh sản do sự ức chế Vasa ở cận dưới (downstream suppression). Các kết quả nghiên cứu của chúng tôi giúp nâng cao hiểu biết về hệ thống ubiquitination ở côn trùng và vai trò của nó trong các quá trình thích nghi, đồng thời mang lại những hiểu biết sâu sắc cho các chiến lược kiểm soát dịch hại bền vững (1).
Xem https://www.pnas.org/doi/10.1073/pnas.2536664123
Một protein effector của nấm ức chế sự truyền tín hiệu MAPK thực vật thông qua tăng hoạtnhư một cơ chất mồi nhử của MKK5 (2).
![]()
Verticillium dahliae là loài nấm tấn công cây chủ qua hệ mạch dẫn, nổi tiếng với giai đoạn ủ bệnh âm thầm, nó xâm nhiễm mà hầu như không có kích hoạt hệ miễn dịch. Cơ sở phân tử của sự im lặng miễn dịch này (immune silence) vẫn chưa được làm rõ. Tác giả chỉ ra rằng V. dahliae tiết ra một protein “effector” mà các chức năng của nó như là một cơ chất mồi nhử đối với kinase miễn dịch trung tâm MKK5, do đó, chuyển hướng quá trình phosphoryl hóa từ hệ thống truyền tín hiệu tự vệ. Thay vì phân hủy protein của ký chủ, nấm V. dahliae khai thác kinase của cây chủ thông qua chuyển lại hướng hoạt động của mình, khóa lại hoạt động miễn dịch vô cùng hiệu quả. Sự kiện như vậy mở ra một chiến lược chưa từng có trước đây thông qua mầm bệnh nấm ức chế miễn dịch thực vật và xác định mô đun kinase của MKK5-mitogen-activated protein là một mục tiêu di truyền chính xác phục vụ tính kháng bệnh xâm nhiễm qua mạch dẫn.
Làm thế nào mà nấm gây bệnh ứ chế được trung tâm điều phối tin hiệu vẫn còn là nội dung chưa hiểu rõ. Tác giả xác định một protein “effector” tiết ra bởi nấm gây bệnh Verticillium dahliae, ký hiệu VdHCE1, điều cần thiết để đạt được độc lực toàn phần và trực tiếp tác động lên đường truyền tin hiệu MAPK của cây chủ. VdHCE1 tương tác với MAPK kinase MKK5 và được phosphoryl hóa ở vị trí threonine 166 trong cây. Kết quả phân tích hóa sinh cho thấy VdHCE1 cạnh tranh với MPK3 và MPK6 như một cơ chất (substrate) của MKK5, do đó, tiết giảm hoạt động sau đó của MAPK. Một cách nhất quán là, VdHCE1 ức chế phản ứng miễn dịch của elicitor và NLR-triggered immune, trong khi việc loại bỏ VdHCE1 làm giảm độc lực của nấm trong trường hợp cây mô hình Arabidopsis và cây bông vải. Sự gián đoạn di truyền của MKK5 khôi phục lại độc lực của chủng nòi nấm thiếu VdHCE1, hình thành MKK5 như một mục tiêu chức năng của VdHCE1. Những phát hiện này cho thấy có một cơ chế mà qua đó nấm gây bệnh dạng sợi, ức chế hệ miễn dịch của thực vật, bằng cách đóng vai trò như một cơ chất mồi nhử trong chuỗi tín hiệu MAPK, đồng thời cung cấp cơ sở phân tử để tạo ra khả năng kháng bệnh héo rũ mạch dẫn (2).
Xem: https://www.pnas.org/doi/10.1073/pnas.2603182123

Đặc điểm phân tử của virus gây bệnh đốm vàng đu đủ, một loài carlavirus mới xâm nhiễm đu đủ ở Đài Loan (3)
Đu đủ (Carica papaya) là loài trái cây quan trọng ờ nhiệt đới, sản xuất đu đủ tại Đài Loan đang đối diện với vấn đề nghiêm trọng bởi bệnh siêu vi, đặc biệt là bệnh đốm vàng PRSV (papaya ringspot virus) và bệnh xoắn đọt lá PLBMV (papaya leaf distortion mosaic virus). Tháng Chín 2019, đu đủ biểu hiện triệu chứng khảm vàng đốm lá (chlorotic spotting) được người ta lấy mẫu tại Pingtung County, nam Đài Loan. Một loài virus riêng biệt, ký hiệu là papaya chlorotic spot-associated virus (PCSaV), được phân lập thông qua phương pháp “single-lesion transfers” (chuyển vị tổn thương đơn) trên cây Chenopodium quinoa (hạt diêm mạch). Qua kết quả soi chụp trên kính hiển vi điện tử, người ta thấy được các hạt dạng sợi khoảng 700 nm chiều dài ở mô bệnh.
Giải trình tự thông lượng cao và giải trình tự Sanger cho thấy hệ gen hoàn toàn có tất cả 8.075 nucleotides (nts) bao gồm 6 khung độc mã ORF (open reading frames), phù hợp với cấu trúc hệ gen của carlavirus. Hệ gen PCSaV có độ tương đồng ít hơn 65% nt với 71 ICTV-listed carlaviruses, con số tương đồng cao nhất 64.1% nt đối với virus gây bệnh khảm đậu cowpea (CpMMV; HQ184471).Phân tích di truyền huyết thống đã xếp PCSaV vào nhánh CpMMV clade nhưng đó là một “distinct lineage” (chủng nòi riêng biệt). Kết quả cho thấy PCSaV chính là một carlavirus mới. PCSaV tương tác với huyết thanh kháng thể CpMMV, cặp mồi PCR của phiên mã ngược đặc hiệu đã được thiết kế để phân biệt hai loại hình virus này. Điều ra ngoài đồng tại Pingtung phát hiện ra PCSaV trong 30 mẫu đu đủ của tất cả 176 mẫu đu đủ có triệu chứng bệnh (17%), bao gồm lây nhiễm chéo với PRSV, cho thấy nó đặc trưng mối đe dọa bệnh siêu vi trên vùng trồng đu đủ ở Đài Loang. Kết qua chúng minh được PCSaV một loài siêu vi chưa từng có trước đây xâm nhiễm cây đu đủ, nhấn mạnh sự cần thiết phải tiếp tục quan sát và nghiên cứu dịc tể học để đánh giá tác động của nó tên sản xuất đu đủ (3).
Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/42184997/
Các loại hình đặc trưng của siRNAs dẫn xuất từ virus phản ứng sự lây nhiễm bệnh đốm vòng đu đủ với các dòng giống đu đủ trồng khác nhau (Carica papaya L.) cũng như loài hoang dại gần gủi với chúng (4)
Siêu vi có thuật ngữ Papaya ringspot virus (PRSV), là tác nhân gây bệnh đóm vòng đu đủ (ringspot). Đây là pathogens gây hại nặng nề nhất cho vùng trồng đu đủ, tổn thất 80-90% năng suất trên toàn thế giới. Vẫn còn tồn tại khoảng trống kiến thức quan trọng về những yếu tố quyết định ở mức độ phân tử của tính trạng chống chịu cây đu đủ với PRSV và vài trò chống lại siêu vi (antiviral role) của phương pháp RNA silencing (làm câm gen nhờ RNA can thiệp). Là một virus có cấu hình RNA, cho nên PRSV tồn tại dười dạng loài đặc biệu “quasi-species” trong cây chủ của nó, có một quần thể các biến dị cá thể quan hệ gần nhau về di truyền, chúng tương tác một cách linh hoạt với RNAi của cây chủ (RNA can thiệp làm câm gen). trong cây đu đủ nhiễm bệnh, phân tử RNA của siêu vi tồn tại dưới nhiều dạng: “single-stranded RNA (phân tử RNA sợi đơn), double-stranded RNA (phân tử RNA sợi kép), encapsidated RNA (phân tử RNA có vỏ bọc), và virus-derived small interfering RNAs (vsiRNAs) ( phân tử RNA nhỏ, có tính can thiệp dãn xuất từ siêu vi); chúng ảnh hưởng theo kiểu cùng tác động đến sự tồn tại dai dẳng của virus và sự tự vệ của cây chủ. Thực vật thường có trường hợp đồng nhiễm bởi nhiều chủng nòi virus hoặc vác biến chủng (variants); một hiện tượng ngày càng được phát hiện nhờ giải trình tự thông lượng cao. Nghiên cứu này chỉ ra kết quả giải trình tự phân tử RNA nhỏ có tính chất so sánh đã định tính được quần thề vsiRNA trong PRSV nhiễm bệnh cây đu đủ và các cá thể đối chứng (cây khỏe mạnh) thuộc hai giống đu đủ - PRSV-tolerant Pusa Selection-3, PRSV-susceptible Pusa Majesty và một quần thể loài hoang dại, Vasconcellea cauliflora. Kết quả giải trình tự thông lượng cao chỉ ra ~ 238 triệu reads, trong đó, vsiRNAs bao gồm 21, 22, và 24 nucleotides (nt) theo chiều dài phân tử được tìm thấy rất phong phú và được lập bản đồ trong hệ gen siêu vi PRSV. Chú ý, vsiRNAs có chiều dài 21nt chiếm ưu thế, chiếm 35-60% lượng vsiRNAs trong mẫu bệnh PRSV, bên cạnh, vsiRNAs có chiều dài 22nt và 24nt chiếm 15-35% ưu thế trong cây đu đủ khỏe mạnh
và trong loài hoang dại, kết quả cho thấy một xu hướng phân cực nhất quản của mạch “sense-strand” (mạch mã hóa). Phân tích nucleotides ở đầu 5' trình tự dây antisense của vsiRNAs cho thấy sự hiện diện có tính chất ưu tiên của Adenine (A) hoặc Uracil (U), như vậy đây là kiểu nạp Argonaute protein có chọn lọc (4).
Nghiên cứu này mang lại cái nhìn so sánh đầu tiên về động thái của vsiRNA ở các kiểu gen đu đủ mẫn cảm, chịu đựng và hoang dại, qua đó làm nổi bật sự phức tạp trong tương tác giữa cây chủ và virus liên quan đến cơ chế gây bệnh của PRSV cũng như cơ chế phòng vệ của vật chủ. Các kết quả nghiên cứu giúp nâng cao hiểu biết về cơ chế phòng vệ kháng virus qua trung gian RNAi – yếu tố then chốt tạo nên khả năng chịu đựng PRSV – đồng thời đặt nền tảng cho việc phát triển các chiến lược kháng bệnh dựa trên RNAi trong các chương trình cải tạo giống đu đủ (4).
Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/41502472/
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-
Jinyu Hu, Buli Fu, Qi Su, Xindi Guo, Chengjia Zhang, Qimei Tan, Rong Zhang, Hantang Lu, Peipan Gong, Shaonan Liu, Xuguo Zhou, Ralf Nauen, Youjun Zhang, Chris Bass, and Xin Yang. 2026. Ubiquitination plays a key role in an insecticide resistance fitness cost. PNAS July 30 2026; 123 (31) e2536664123; https://doi.org/10.1073/pnas.253666412
-
Xiu-qi Liu, Xian-ping Liu, Lin Jin, Min Luo, Yu-jia Tang, Yu-zhuo Yan, Cheng-Guo Duan, and Chen Zhu. 2026. A fungal effector inhibits plant MAPK signaling by acting as a decoy substrate of MKK5. PNAS July 29 2026; 123 (31) e2603182123. https://doi.org/10.1073/pnas.2603182123
-
Chian-Chi Lin, Chia-Ming Hu, C-H Chiang, Ying-Huey Cheng, Yuh-Kun Chen, Tsung-Chi Chen. 2026. Molecular characterization of papaya chlorotic spot-associated virus, a novel carlavirus infecting papaya in Taiwan. Plant Dis.; 2026 May 25. doi: 10.1094/PDIS-09-25-2009-RE. Online ahead of print.
-
Madhvi Naresh, Basavaprabhu L Patil. 2026. Distinct patterns of virus derived-siRNAs in response to Papaya ringspot virus infection in differentially responding genotypes of papaya (Carica papaya L.) and its wild relative. 3 Biotech; 2026 Jan; 16(1):52. doi: 10.1007/s13205-025-04672-0.
Biên tập: BÙI CHÍ BỬU
Số lần xem: 24












