Vai trò của khoa học trong lực lượng sản xuất số ở Việt Nam hiện nay
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, sự thay đổi các phương thức sản xuất luôn bắt nguồn từ sự biến đổi của lực lượng sản xuất, trong đó khoa học đóng vai trò là động lực then chốt, mang tính cách mạng. Với sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thế giới đang chứng kiến sự chuyển dịch căn bản từ nền sản xuất công nghiệp truyền thống sang nền kinh tế số. Trong bối cảnh đó, khái niệm “lực lượng sản xuất số” đã hình thành như một bước phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người. Tại Việt Nam, thực tiễn cho thấy, quá trình hình thành lực lượng sản xuất số ở nước ta đang đối diện với nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Khoa học - công nghệ mặc dù đã có những bước tiến vượt bậc, song việc ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, quản lý và đời sống vẫn còn khoảng cách so với kỳ vọng. Do đó, cần nhận diện đúng đắn và phát huy tối đa vai trò của khoa học trong cấu trúc lực lượng sản xuất mới.
Những vấn đề lý luận chung
Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, khoa học được hiểu là hệ thống tri thức chân thực về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. C. Mác đặt khoa học trong mối quan hệ biện chứng với thực tiễn sản xuất vật chất. Trong tác phẩm Những nét phác thảo phê phán khoa kinh tế chính trị (1857 - 1858), C. Mác viết: “Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp, và do đó, nó cũng là chỉ số cho thấy những điều kiện của chính ngay quá trình sống của xã hội đã phục tùng đến mức độ nào sự kiểm soát của trí tuệ phổ biến và đã được cải tạo đến mức độ nào phù hợp với quá trình ấy”(1).

Hướng dẫn sinh viên nghiên cứu tại phòng thí nghiệm của Trường Đại học Phenikaa_Ảnh: hanoimoi.vn
Luận điểm này đã chỉ ra rằng, khi sản xuất đạt đến trình độ cao (đại công nghiệp và sau này là kinh tế tri thức), khoa học sẽ thâm nhập vào mọi yếu tố của quá trình sản xuất. C. Mác cũng nhấn mạnh thêm: “Thiên nhiên không chế tạo ra máy móc, không chế tạo ra đầu máy xe lửa, tàu điện, vải vóc,… Tất cả những cái đó đều là sản phẩm của lao động con người... đều là những khí quan của bộ óc con người được bàn tay con người tạo ra; đó là sức mạnh của tri thức đã được vật thể hóa”(2). Sự phát triển của máy móc và công nghệ hiện đại không chỉ dựa trên kinh nghiệm thủ công mà ngày càng dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật, qua đó biến khoa học từ “lực lượng tinh thần” thành “lực lượng vật chất trực tiếp” của sản xuất.
Từ góc độ khác, khoa học trong lực lượng sản xuất chính là quá trình “vật thể hóa” sức mạnh tri thức. Khoa học từ chỗ là “lực lượng tinh thần” (tiềm năng) đã chuyển hóa thành “lực lượng vật chất” (hiện thực) thông qua công cụ lao động và kỹ năng của người lao động. Trong kỷ nguyên số, sự “vật thể hóa” này không chỉ dừng lại ở máy móc cơ khí mà đã tiến lên trình độ cao hơn là các thuật toán, phần mềm và trí tuệ nhân tạo. Khoa học không chỉ cung cấp công cụ, phương tiện cho sản xuất mà còn trực tiếp tạo ra những phát minh, sáng chế, công nghệ mới, làm thay đổi cơ cấu kinh tế, quan hệ xã hội và bộ mặt của toàn bộ đời sống xã hội. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, chuỗi khối…, khoa học đã trực tiếp tham gia vào sản xuất, quản lý và đời sống xã hội, trở thành nền tảng cho sự hình thành một loại hình lực lượng sản xuất mới - lực lượng sản xuất số. Đây là biểu hiện của bước phát triển nhảy vọt về năng suất lao động, mở ra khả năng tái cấu trúc toàn diện các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, thúc đẩy sự hình thành kinh tế tri thức và xã hội số.
Lực lượng sản xuất số là khái niệm dùng để chỉ trình độ phát triển mới về chất của lực lượng sản xuất xã hội trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó các yếu tố cấu thành được số hóa, kết nối và vận hành dựa trên nền tảng dữ liệu và công nghệ thông minh. Lực lượng sản xuất là yếu tố năng động, cách mạng nhất trong phương thức sản xuất; trong đó, khoa học ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, quyết định nhịp độ và trình độ phát triển của xã hội. Lực lượng sản xuất biểu hiện toàn bộ năng lực thực tiễn mà xã hội sử dụng trong quá trình sản xuất ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Dưới tác động mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, bản chất và chức năng của các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất đã có sự chuyển biến sâu sắc, hình thành nên “lực lượng sản xuất số”.
Đảng ta xác định rõ: “Khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước’’(3). Trong bối cảnh mới, một trong những định hướng trọng tâm là: “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; phát triển mạnh mẽ kinh tế số, xã hội số”(4). Đại hội XIII khẳng định: “Phát triển lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ hiện đại, nâng cao năng suất lao động, coi khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chính của tăng trưởng kinh tế’’(5). Điều này cho thấy, phát triển lực lượng sản xuất số - với khoa học là hạt nhân - là nhu cầu khách quan và định hướng chiến lược, mang ý nghĩa chính trị - tư tưởng sâu sắc, gắn bó mật thiết với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Lực lượng sản xuất số ở Việt Nam có một số đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, lực lượng sản xuất số tại Việt Nam không hình thành từ một nền tảng công nghiệp phát triển hoàn thiện như các nước phương Tây, mà nảy sinh từ một nền kinh tế đang chuyển đổi với những đặc thù riêng biệt về kinh tế - chính trị - xã hội. Trước hết, xét về bối cảnh trong nước, Việt Nam phát triển lực lượng sản xuất số trong khuôn khổ thể chế chính trị ổn định dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, với mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là nền tảng then chốt tạo ra sự thống nhất về ý chí và hành động, cho phép Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, định hướng nguồn lực xã hội tập trung vào công nghệ không chỉ vì mục tiêu lợi nhuận mà còn vì an sinh xã hội. Về yếu tố con người, Việt Nam đang sở hữu lợi thế cơ cấu “dân số vàng” với lực lượng lao động trẻ, năng động, có khả năng tiếp thu công nghệ mới nhanh nhạy và tinh thần khởi nghiệp cao. Tuy nhiên, chất lượng lao động vẫn còn là một điểm nghẽn khi phần lớn nhân lực vẫn dừng lại ở kỹ năng gia công, lắp ráp, thiếu hụt nghiêm trọng các chuyên gia đầu ngành, kỹ sư trưởng có khả năng làm chủ công nghệ lõi. Tác phong công nghiệp và kỷ luật dữ liệu của một bộ phận người lao động vẫn còn hạn chế do ảnh hưởng của tư duy sản xuất nhỏ lẻ.
Các lĩnh vực như thương mại điện tử, tài chính số, giáo dục trực tuyến, y tế thông minh, nông nghiệp công nghệ cao, chính phủ điện tử… đều ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ. Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có tốc độ phát triển internet và thương mại điện tử nhanh nhất khu vực, nhiều doanh nghiệp công nghệ số vươn lên mạnh mẽ, góp phần gia tăng năng suất lao động, mở rộng thị trường và nâng cao vị thế quốc gia. Tuy nhiên, khoảng cách số giữa các vùng, miền, giữa khu vực đô thị và nông thôn còn xa. Nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn… vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Mức độ tự chủ về công nghệ còn hạn chế, phụ thuộc vào nhập khẩu, dẫn đến nguy cơ bị chi phối và tụt hậu. Hệ thống hạ tầng số chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập trong kết nối, bảo mật, an toàn thông tin…
Sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tạo ra một “thế giới phẳng” về công nghệ, nơi mà các xu hướng như AI, Big Data, Blockchain lan tỏa toàn cầu với tốc độ chóng mặt, buộc Việt Nam phải chuyển đổi nếu không muốn tụt hậu. Xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu đang mở ra cơ hội để Việt Nam đón nhận dòng vốn FDI chất lượng cao cùng sự chuyển giao công nghệ tiên tiến. Bối cảnh này vừa là “lực đẩy” giúp Việt Nam tiếp cận tri thức nhân loại, vừa là “lực kéo” tạo áp lực phải tuân thủ các chuẩn mực quốc tế khắt khe về công nghệ và môi trường.
Thứ hai, đặc trưng bao trùm của lực lượng sản xuất số tại Việt Nam hiện nay là tính chất đan xen, quá độ và phát triển không đồng đều. Đó là sự tồn tại song hành giữa cái cũ và cái mới, giữa thủ công và hiện đại. Về ưu điểm, Việt Nam có lợi thế của người đi sau để thực hiện những “cú nhảy vọt” về công nghệ, bỏ qua các giai đoạn trung gian lạc hậu để áp dụng ngay những thành tựu mới nhất, điển hình là sự phát triển vượt bậc của hạ tầng viễn thông, mạng 4G/5G và tỷ lệ phổ cập internet thuộc nhóm cao trên thế giới. Bên cạnh đó, sự trỗi dậy mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân và các tập đoàn công nghệ nội địa lớn, như Viettel, FPT, VNPT… bước đầu tạo dựng “xương sống” cho hạ tầng số quốc gia. Tuy nhiên, lực lượng sản xuất số Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, nổi bật nhất là sự thiếu hụt công nghệ lõi, chủ yếu dựa trên các nền tảng công nghệ nước ngoài, giỏi về ứng dụng hơn là sáng tạo công nghệ nguồn, dẫn đến nguy cơ phụ thuộc và dễ tổn thương về an ninh kinh tế. Thêm vào đó, nguồn tài nguyên dữ liệu dù rất lớn nhưng còn phân tán, rời rạc, chưa được chuẩn hóa để trở thành đầu vào hiệu quả cho sản xuất. Khung khổ thể chế pháp lý cho các mô hình kinh tế mới vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, đôi khi chưa theo kịp tốc độ phát triển thực tiễn. Nhìn chung, đặc trưng này phản ánh đúng quy luật phát triển của một nước đang trong thời kỳ quá độ, đòi hỏi phải có quyết sách đột phá để vừa phát huy lợi thế hạ tầng và con người, vừa khắc phục triệt để sự phụ thuộc về công nghệ nền tảng.
Tại Việt Nam, vai trò của khoa học trong lực lượng sản xuất số được thể hiện qua các phương diện sau:
Thứ nhất, khoa học kiến tạo thị trường mới và làm thay đổi cấu trúc kinh tế quốc gia.
Khoa học - công nghệ tiên phong trong việc kiến tạo những thị trường mới mà trước đây chưa từng tồn tại. Nếu như trong nền kinh tế truyền thống, sản xuất thường chạy theo nhu cầu có sẵn, thì trong nền kinh tế số, khoa học - công nghệ tạo ra nhu cầu mới và phương thức tiêu dùng mới. Sự bùng nổ của các nền tảng công nghệ đã hình thành nên thị trường kinh tế chia sẻ (Sharing Economy) và thương mại điện tử (E-commerce) đầy sôi động. Sự xuất hiện của các ứng dụng như Grab, Be, Xanh SM hay các sàn thương mại điện tử Shopee, Tiki không đơn thuần là số hóa quy trình mua bán, mà là sự ra đời của một phương thức trao đổi hàng hóa mới, tối ưu hóa nguồn lực xã hội thông qua các thuật toán. Đồng thời, khoa học thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang các ngành vận dụng tri thức, mở ra dư địa tăng trưởng mới thông qua việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu như thiết kế vi mạch, công nghiệp phần mềm.
Thứ hai, khoa học góp phần làm biến đổi về chất các yếu tố của lực lượng sản xuất.
Đối với người lao động, khoa học đã góp phần “định nghĩa lại” vai trò của con người. Từ vị trí trực tiếp thao tác công cụ, người lao động chuyển sang vai trò điều khiển, giám sát và sáng tạo trên nền tảng công nghệ. Đối với công cụ lao động, khoa học biến các cỗ máy cơ khí vô tri thành nhưng “công cụ thông minh” tích hợp cảm biến và AI. Đối với đối tượng lao động, ngoài tài nguyên thiên nhiên, khoa học đưa vào sản xuất một đối tượng mới là dữ liệu (Data). Hiện nay, các doanh nghiệp như Viettel, VNPT đang khai thác dữ liệu để tạo ra giá trị mới, biến dữ liệu thành tài sản thực sự của nền kinh tế.
Thứ ba, khoa học thúc đẩy tốc độ phát triển quan hệ sản xuất và kinh tế toàn xã hội.
Khoa học tác động làm biến đổi quan hệ sở hữu và phân phối. Công nghệ blockchain và hợp đồng thông minh (smart contracts) giúp giảm thiểu các khâu trung gian, cho phép kết nối trực tiếp (peer-to-peer), tăng tính minh bạch. Các giải pháp thanh toán số (Mobile Money, QR Code) đã giúp dòng tiền trong xã hội luân chuyển nhanh chóng. Hạ tầng mạng 4G/5G giúp rút ngắn khoảng cách địa lý, tạo điều kiện cho vùng sâu, vùng xa tiếp cận thị trường, góp phần giảm bất bình đẳng kinh tế.
Thứ tư, khoa học góp phần nâng cao hiệu suất trong sản xuất và lao động.
Ứng dụng AI và Big Data giúp tối ưu hóa quy trình quản lý (thông qua hệ thống ERP), dự báo chính xác nhu cầu thị trường, giảm thiểu lãng phí. Trong y tế, các phần mềm ứng dụng AI (như DrAid) hỗ trợ bác sĩ chẩn đoán hình ảnh nhanh chóng. Trong logistics, hệ thống robot chia chọn tự động của Viettel Post hay giao hàng tiết kiệm xử lý hàng triệu đơn hàng mỗi ngày với độ chính xác tuyệt đối - điều mà sức lao động thủ công không thể thực hiện được.
Thứ năm, phát triển bền vững và quản lý năng lượng hiệu quả.
Khoa học cung cấp giải pháp giải quyết mâu thuẫn giữa tăng trưởng và môi trường. Công nghệ năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời) đang phát triển mạnh tại một số địa phương. Các mô hình thành phố thông minh sử dụng cảm biến để giám sát môi trường, điều tiết giao thông, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và cam kết NetZero của Việt Nam.
Giải pháp phát huy vai trò của khoa học trong lực lượng sản xuất số ở Việt Nam hiện nay
Để khoa học thực sự trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”, động lực then chốt đưa Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên số, cần chú trọng một số giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển khoa học - công nghệ, coi đây là “quốc sách hàng đầu” theo tinh thần xuyên suốt từ Đại hội XIII đến Đại hội XIV của Đảng. Kế thừa quan điểm của Đại hội XIII về việc phát triển khoa học và công nghệ là “động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại”, Văn kiện Đại hội XIV xác định: Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của tăng trưởng kinh tế. Để hiện thực hóa chủ trương này, Nhà nước cần tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”; Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, "Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia" bằng việc xây dựng hành lang pháp lý vượt trội cho các mô hình kinh tế mới. Cụ thể, cần sớm ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho các lĩnh vực fintech, kinh tế chia sẻ và tài sản số, cho phép thử nghiệm các công nghệ đột phá mà không bị bó buộc bởi các quy định cũ kỹ. Triển khai thực hiện tốt các định hướng, chương trình, kế hoạch được ban hành(6). Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn để giải phóng tối đa nguồn lực xã hội đầu tư cho khoa học, chuyển mạnh từ cơ chế quản lý sang cơ chế kiến tạo, chấp nhận rủi ro và độ trễ trong nghiên cứu khoa học như một đặc tính khách quan của quá trình sáng tạo.

Tổ hợp công nghệ chia chọn thông minh của Viettel Post sử dụng robot tự hành chia chọn hàng hóa (robot AGV), hệ thống chia hàng lớn (Wheel Sorter Matrix) và hệ thống chia chọn dạng băng tải (Cross-belt Sorter)_Ảnh: soha.vn
Hai là, tập trung nguồn lực xây dựng hạ tầng số quốc gia và làm chủ công nghệ lõi, thực hiện khát vọng “Make in Vietnam”. Tại Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 3-6-2020, của Thủ tướng Chính phủ, “Phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đặt mục tiêu Việt Nam phải làm chủ hạ tầng số và các nền tảng số. Để thực hiện điều này, cần ưu tiên nguồn lực đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư nhằm hoàn thiện mạng lưới 5G và hệ thống Trung tâm dữ liệu quốc gia đạt chuẩn quốc tế, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp nền tảng như công nghiệp bán dẫn (Semiconductor), AI và năng lượng mới. Xây dựng, triển khai chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế, đặc biệt chú trọng đội ngũ cán bộ quản lý và nguồn nhân lực cho các ngành mũi nhọn về khoa học - công nghệ, quản trị thông minh, khoa học cơ bản và các lĩnh vực ưu tiên, mới nổi như: AI, an ninh mạng, chuỗi khối, điện tử, chip bán dẫn, công nghệ số, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học, môi trường, năng lượng (bao gồm cả năng lượng nguyên tử), vật liệu tiên tiến, robot và tự động hóa, không gian vũ trụ, không gian biển, xây dựng công trình ngầm, vận hành đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao. Cần ưu tiên đặt hàng các tập đoàn công nghệ lớn (như Viettel, VNPT, FPT) để họ đóng vai trò tiên phong, dẫn dắt các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào chuỗi giá trị công nghệ, giảm sự phụ thuộc vào các nền tảng nước ngoài và bảo vệ chủ quyền số quốc gia. Thể chế khoa học, công nghệ cần được đổi mới, hoàn thiện và phát triển đồng bộ hơn.
Ba là, thực hiện đột phá chiến lược về nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học. Văn kiện Đại hội XIII, Đại hội XIV đều xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao là một trong ba đột phá chiến lược, yêu cầu tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài. Hệ thống giáo dục đại học cần được tái cấu trúc theo mô hình đại học nghiên cứu, gắn kết chặt chẽ ba nhà: Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp. Cần cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút đội ngũ trí thức, chuyên gia khoa học người Việt Nam ở nước ngoài về nước cống hiến. Thực tế cho thấy, sự hưởng ứng của các doanh nghiệp như Vingroup (với giải thưởng VinFuture, Đại học VinUni) hay FPT (với hệ thống giáo dục FPT Schools) trong việc đào tạo nhân lực AI và chip bán dẫn là minh chứng sống động cho sự lan tỏa chủ trương của Đảng vào đời sống xã hội, cần được nhân rộng và khuyến khích.
Bốn là, phát huy vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Thực hiện Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 (Quyết định số 569/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 11-5-2022), doanh nghiệp phải được xác định là trung tâm của mọi hoạt động đổi mới sáng tạo. Nhà nước cần sử dụng các công cụ tài chính như Quỹ Phát triển khoa học - công nghệ quốc gia (NAFOSTED) và Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF) để hỗ trợ “vốn mồi”, kích thích doanh nghiệp trích lập Quỹ Nghiên cứu và Phát triển (R&D - Research and Development) nhằm tài trợ các hoạt động sáng tạo, tìm tòi, cải tiến sản phẩm, dịch vụ và công nghệ mới.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất số dưới tác động của khoa học là một xu thế tất yếu khách quan, không thể đảo ngược trong dòng chảy lịch sử. Khoa học đã và đang làm thay đổi sâu sắc diện mạo nền kinh tế, phương thức sản xuất và đời sống xã hội tại Việt Nam. Việc nhận diện rõ vai trò và chủ động xây dựng các giải pháp đồng bộ để phát triển lực lượng sản xuất số không chỉ giúp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, mà còn là tiền đề vững chắc để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên phát triển mới./.
----------------------
(1) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 23, t. 373
(2) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Sđd, t. 373
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 56
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 140
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 230
(6) Như: Kế hoạch số 01-KH/BCĐTW, ngày 2-6-2025, của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về hành động chiến lược triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Thực hiện theo Nghị quyết số 71/NQ-CP, ngày 1-4-2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”
Theo TCCS
(xem tin bài gốc tại: https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1293102/vai-tro-cua-khoa-hoc-trong-luc-luong-san-xuat-so-o-viet-nam-hien-nay.aspx)
Số lần xem: 130











